Xu Hướng 3/2024 # Bảng Chữ Kanji Và Cách Đọc Chuẩn Cho Người Mới 2024 Hot # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bảng Chữ Kanji Và Cách Đọc Chuẩn Cho Người Mới 2024 Hot được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Ezlearning.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Các cấp độ JLPT trong tiếng Nhật

Bằng tiếng Nhật có thời hạn bao lâu?

Chữ Hán du nhập vào Nhật Bản vào khoảng thế kỷ thứ 5,6 SCN. Tiếng Nhật cổ đại vốn không có chữ viết, nên khi chữ Hán du nhập vào Nhật, người Nhật dùng chữ Hán để viết tiếng nói của họ. Vào thời này, hệ thống chữ viết của Nhật dùng hoàn toàn bằng Hán tự (tức Kanji). Vì hệ thống chữ viết dựa trên chữ Hán khá phức tạp, nên người ta đã tạo ra bảng chữ cái mới Hiragana và Katakana dựa trên hình ảnh của Kanji để đơn giản hóa chữ viết. Sau nhiều lần chỉnh lí thì tiếng Nhật đã có 3 bảng chữ cái như bây giờ: Hiragana – Katakana và Kanji

Việc học hai bảng chữ cứng và chữ mềm khá đơn giản vì nó giống như các mẫu tự latinh, tức là có số lượng hữu hạn – chỉ gồm vài chục kí tự. Và từ các kí tự đơn lẻ ghép vào nhau chúng ta mới từ hoặc cụm từ có ý nghĩa. Nhưng bảng chữ cái thứ 3 – Kanji thì khác, số lượng các chữ tới hàng nghìn tới chục nghìn chữ, và mỗi chữ đều ẩn chứa ý nghĩa riêng, độc lập. Do đó có thể nói rằng, mỗi một chữ Kanji có sức mạnh diễn đạt bằng hàng trăm các kí tự chữ cứng hay chữ mềm gộp lại, bởi bản thân mỗi chữ Kanji đã chứa đựng những nội dung rất giàu có và phong phú sắc thái biểu đạt. Đó chính là khả năng ưu việt của Kanji.

Tóm lại, bởi sự khác biệt của Kanji đối với hai bảng chữ cứng và chữ mềm đã khiến cho Kanji trở thành bộ phận không thể thiếu trong tiếng Nhật.

Cách viết chữ Kanji, Hán tự trong tiếng Nhật

Khi bắt tay vào viết Kanji có lẽ các bạn sẽ nghĩ rằng mình có thể viết tùy thích miễn sao tổng quan hình dạng của chữ trông không bị sai so với chữ gốc là được, tuy nhiên việc tuân thủ thứ tự nét khi viết Kanji là một điều rất quan trọng. Trong Hán tự học, thứ tự viết chữ bao gồm 2 nội dung: một là hướng đi của nét bút,

Ví dụ như: nét ngang thì phải đi từ trái sang phải, nét sổ thì đi từ trên xuống dưới; hai là thứ tự trước sau trong khi viết các nét chữ hay còn gọi là thứ tự nét bút. Hai yếu tố trên khi hợp lại sẽ đảm bảo chữ Hán được viết đúng thứ tự.

Mặc dù có nhiều bạn khi học hoàn toàn có thể viết Kanji đúng mà không cần tuân thủ các nét viết, thay vào đó là viết theo sự thuận tay của mình. Tuy nhiên, với các bạn bắt đầu học tiếng Nhật, và để có thể viết chữ Hán đẹp, mà quan trọng hơn là viết được đủ nét, không bị thiếu nét và làm quen nhanh với chữ Hán thì việc tuân thủ quy tắc về thứ tự nét bút rất quan trọng.

Phải học bao nhiêu chữ Kanji trong tiếng Nhật ?

Thực tế là số lượng Kanji trong tiếng Nhật so với số lượng chữ Hán mà người học tiếng Trung phải học là ít hơn rất nhiều. 2136 chữ kanji được chấp nhận sử dụng chính thức trong ngành xuất bản, và 1945 chữ kanji là tổng số chữ mà Bộ giáo dục Nhật Bản yêu cầu đưa vào giảng dạy trong trường học. Nhưng đối với chúng ta – những người không quen sử dụng chữ tượng hình như là ngôn ngữ chính thức thì 1945 chữ kanji vẫn là một con số khá lớn.

Cách học chữ Kanji hiệu quả ?

Chúng đều sở hữu một bộ phận giống nhau phải không nào? Hay nói cách khác, chúng có chung Bộ thủ.

Bộ thủ của Kanji là gì: Một chữ Kanji có thể chia tách thành nhiều bộ phận nhỏ hơn như trên và mỗi bộ phận nhỏ cấu tạo nên Kanji như vậy được gọi là bộ Thủ.

Thay vì học Kanji một cách máy móc, bằng việc học thuộc lòng từng mặt chữ trong tổng cả ngàn chữ đầy đơn điệu tẻ nhạt, chúng ta hoàn toàn có thể đơn giản hóa những thứ cốt yếu cần nhớ xuống, đó là tập trung vào bộ Thủ, mà số lượng Bộ Thủ thì ít hơn số lượng Kanji rất nhiều. Thực tế là tất cả các Kanji đều là sự kết hợp của 214 bộ thủ.

Như vậy, học bộ thủ không có nghĩa là mất thêm thời gian và thêm cái để ghi nhớ mà chính là phương tiện để rút ngắn thời gian và giúp ghi nhớ Kanji một cách khoa học.

Với các bạn mới bắt đầu làm quen với tiếng Nhật và với Kanji, thì hẳn là vẫn còn đang choáng ngợp và lo lắng rằng liệu mình có kiên trì đến cùng được không với thứ ngôn ngữ tượng hình khó nhằn này phải không nào?

Bởi vì đất nước chúng ta là 1 quốc gia thuộc vùng chữ Hán

Vùng chữ Hán gồm 6 quốc gia và khu vực đó là: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Triều Tiên, Việt Nam. Việt Nam chính là quốc gia Đông Nam Á duy nhất thuộc vùng chữ Hán. Bởi vì cả VN và NB đều thuộc khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiếng Trung đối với tiếng nói chữ viết của nước mình, nên có rất nhiều điểm tương đồng giữa Hán Việt và Hán Nhật.

Chính vì chúng ta có lợi thế rất lớn khi học Kanji cho nên nếu bạn chịu khó để ý thì học Kanji thật sự không phải là điều quá khó. Và bạn hoàn toàn có thể khơi gợi cảm hứng học tập của chính mình bất cứ lúc nào nếu như trong tay bạn nắm vững những phương pháp học tập khoa học và hữu ích.

Hi vọng những thông tin mà Dekiru đưa ra sẽ giúp các bạn phần nào làm quen và cảm thấy thú vị khi học Kanji nói riêng và việc học tiếng Nhật nói chung.

bảng chữ cái kanji đầy đủ và cách đọc

download bảng chữ cái tiếng nhật kanji

chúng tôi Báo Nhật Bản tiếng Việt cho người Việt

Tin tức nước Nhật online: Nhật Bản lớn thứ 2 tại Nhật BẢn cập nhật thông tin kinh tế, chính trị xã hội, du lịch, văn hóa Nhật Bản

Cách Học Kanji Cho Người Mới Bắt Đầu

Đối với những bạn mới học tiếng Nhật có lẽ khó nhất chính là học Kanji vì vừa có nhiều nét vừa không có quy tắc nhất định nào để nhớ.

📌 Nắm được quy tắc viết Kanji

📌 Học thuộc, hiểu ý nghĩa của các bộ thủ chữ Hán

📌 Cố gắng học thông qua hình ảnh và câu chuyện

📌 Học Kanji bằng Flashcard Kanji

➡️Nét ngang trước, dọc sau

➡️Nét sổ thẳng và xuyên ngang được viết sau cùng

➡️Nét xiên trái(nét phẩy) viết trước nét xiên phải( nét mác)

➡️Đối với các kanji đối xứng, viết phần giữa trước

➡️Phần bao quanh viết trước, bên trong viết sau

➡️Đối với phần bao quanh, nét sổ trái viết trước

➡️Đối với phần bao quanh, nét dưới đáy được viết cuối cùng

➡️Các nét chấm nhỏ viết sau cùng.

Có thể ban đầu bạn sẽ thấy hơi nhiều nhưng chỉ cần bạn nắm được những quy tắc cơ bản và tập viết theo thì sẽ thành thói quen, không lo bị viết sai thứ tự.

2/Bộ thủ chữ Hán – Ghi nhớ Kanji qua bộ thủ:

Kanji hay còn gọi là chữ Hán đều được hình thành từ các bộ thủ. Trong tiếng Nhật có khoảng 214 bộ thủ tất cả.

Mỗi bộ thủ lại có một ý nghĩa riêng, khi chúng ghép với nhau hình thành Kanji sẽ tạo thành 1 chữ Hán có nghĩa.

3/Ghi nhớ Kanji dễ dàng qua hình ảnh và câu chuyện:

Vì não bộ của con người sẽ xử lý thông tin dưới dạng hình ảnh nhanh hơn so với chữ viết thông thường nên để có thể nhớ chữ Hán lâu mà không bị quên thì bạn nên phát huy trí tưởng tượng của mình để hình dung những chữ Hán đó thành hình ảnh hoặc không hãy tự viết câu chuyện thông qua chữ Hán đó.

Kanji vốn dĩ là chữ tượng hình, có rất nhiều chữ Kanji được hình thành thông qua phác họa lại những hình ảnh/ hiện tượng thiên nhiên, đồ vật.

Do đó, để ghi nhớ những chữ Kanji dạng này, việc liên tưởng qua câu chuyện là một bí kíp quan trọng trong học chữ Hán.

Tuy nhiên, không phải ai cũng giỏi trong việc tưởng tượngra hình ảnh. Tuy nhiên, có nhiều tài liệu học chữ Hán có kèm hình ảnh và câu chuyện minh họa rất hay dành cho bạn như là:

Ngoài ra, như đã nói ở trên, mỗi bộ thủ đều có 1 ý nghĩa khác nhau, vì vậy ta có thể đoán nghĩa của Kanji qua bộ thủ. Và, cách ghi nhớ Kanji qua câu chuyện là phương án tuyệt vời nhất để bộ não dễ dàng in hình ảnh đó vào đầu.

Cách ghi nhớ Kanji qua câu chuyện:

B1: Phân tích chữ Kanji đó gồm những bộ thủ nào?

B2: Ghép bộ thủ thành những câu chuyện logic/hài hước/ gây sốc…

B3: Tưởng tượng mình là nhân vật chính trong câu chuyện đó.

VD: Với chữ: 音 (Âm: âm thanh) – oto

B1: Gồm 2 bộ thủ là bộ Lập 立 (Nghĩa: Đứng), bộ Nhật 日 (Nghĩa: Mặt trời, Nhật Bản)

B2: Ghép thành câu chuyện: Đứng trên đất Nhật nhớ về Âm thanh của quê hương.

B3: Bản thân mình là nhân vật trong câu chuyện B2.

4/ Nhớ Kanji siêu tốc bằng Flashcard:

Học kết hợp với Flashcard từ vựng, Kanji

Đây là cách học đã quá phổ biến với tất cả các bạn đang học ngoại ngữ chứ không phải chỉ là tiếng Nhật bởi lợi ích mà flashcard mang lại:

– Thông tin chọn lọc

– Học nhanh, nhớ nhanh và lâu hơn

– Tiện lợi, có thể mang đi mọi lúc mọi nơi.

Chính vì vậy, bạn hoàn toàn có thể học Kanji thông qua flashcard. Cách học như sau:

– Cách đầu tiên: Người học sẽ đọc chữ Hán ở mặt trước và đoán cách đọc cũng như nghĩa của nó. Sau đó sử dụng mặt sau để kiểm tra lại và xem cách dùng của từ.

– Cách thứ 2: Chính là sử dụng mặt sau xem cách đọc của chữ Hán và đoán chữ Hán đó là gì. Sau đó kiểm tra lại bằng cách xem mặt trước của thẻ. Quá trình học lặp đi lặp lại chính là một cách ôn tập từ Hán hiệu quả giúp bạn nhớ lâu hơn.

Học là một quá trình dài, không phải ngày một ngày hai mà đạt được kết quả tốt nên điều quan trọng nhất vẫn là kiên trì và luyện tập thường xuyên.

🎁 KHO TÀI LIỆU TIẾNG NHẬT “FREE SIÊU TO”

Học Bảng Chữ Cái Kanji Hiệu Quả

Học bảng chữ cái tiếng Nhật hiệu quả nhất

NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH BẢNG CHỮ CÁI KANJI

Xuôi dòng lịch sử, ta trở về với thuở khai nguyên ngôn ngữ Nhật Bản, có thể thấy rằng trong hệ thống chữ viết tiếng Nhật đã sử dụng ba bộ chữ cái chính đó là Hiragana, Katakana và Kanji.

Chương trình du học Nhật Bản 2024: Tại đây

Có 2 loại chữ Hán

Quốc tự có thể hiểu nôm na là những từ Kanji được chế ra tại Nhật, chữ Hán riêng của người Nhật, còn được gọi với tên khác là Wasei kanji (和 製 漢 字). Đến hiện tại, số lượng từ Quốc tự đã lên đến hàng trăn chữ, một số từ ít được sử dụng, tuy nhiên chúng đã góp phần trong việc cấu thành ngôn ngữ viết tiếng Nhật.

Ví dụ một số từ Quốc tự:

_ 辻 tsuji (ngã tư đường)

_ 働 dō, hatara(ku) (làm việc)

_ 畑 hatake (cánh đồng)

Quốc huấn là những chữ Kanji có nghĩa được dùng trong tiếng Nhật khác một phần hoặc hoàn toàn so với nghĩa gốc của tiếng Trung Quốc.

Ví dụ:

_ 沖 oki (ngoài khơi; tiếng Trung: chōng rửa)

_ 椿 tsubaki (cây sơn trà Nhật Bản; tiếng Trung: chūn cây xuân )

2 cách đọc chữ hán

On’yomi hay còn gọi là âm On là cách đọc chữ Kanji kiểu Hán – Nhật.

Vào thời điểm chữ hán mới được du nhập vào nước Nhật, người dân bản địa đã có quá trình Nhật hóa cách phát âm tiếng Hán của chúng.Một số lượng lớn từ kanji đến từ các vùng miền khác nhau của Trung Hoa đã dẫn đến việc có nhiều cách đọc âm On và 1 từ có nhiều nghĩa khác nhau.

Ví dụ:

_ 働 (động) “làm việc” : Cách đọc On’yomi là dō

_ 腺 (tuyến): Cách đọc On’yomi là sen.

Đây là cách đọc dựa trên cách phát âm của một từ tương đương, gần giống nhất trong tiếng Nhật làm cách đọc tiêu chuẩn cho âm Kun.

Vài trường hợp, Kanji chỉ có âm On mà không có âm Kun. Hầu hết, các ký tự Kanji do người Nhật tự tạo ra chỉ có cách đọc Kun mà không có cách đọc On.

Khi nào đọc Kanji bằng âm Kun và khi nào đọc âm On?

Quy tắc cơ bản nhất để phân loại trường hợp phát âm chữ Hán đó là:

Một ký tự biểu diễn một từ đơn nhất, thường được đọc bằng cách đọc kun’yomi.

Chúng có thể được viết cung với Okurigana (送り伖名, おくりがな) được hiểu là các ký tự đi kèm, là các hậu tố Kana theo sau các ký tự Kanji để biểu đạt biến cách kết thúc của động từ hay tính từ.

Ví dụ:

_ 情け nasake “sự cảm thông”

_ 赤い akai “đỏ”

_ 新しい atarashii “mới”

_ 見る miru “nhìn”

_ Các từ ghép kanji được đọc bằng On’yomi.

Ví dụ:

_ 情報 jōhō “thông tin”

_ 学校 gakkō “trường học”

Tuy nhiên, quy tắc này cũng có ngoại lệ trong một số trường hợp vì có những từ ghép được đọc bằng âm Kun mà không đọc bằng âm On.

Ví dụ:

_ 手紙 tegami “thư”

_ 日傘 higasa “cái ô”

BẢNG CHỮ CÁI KANJI TIẾNG NHẬT

Hiện tại, trong từ điển chữ Hán có khoảng 5 vạn chữ Kanji. Tuy nhiên, đối với người học tiếng Nhật các bạn chỉ cần nhớ tầm 2000 chữ Kanji thông dụng nhất là quá ” ngon” rồi. Những chữ này sẽ được sử dụng rộng rãi trong đời sống và sinh hoạt thường ngày hay cả trong công việc, học tập.

Download bộ tài liệu kanji

CÁCH HỌC BẢNG CHỮ CÁI KANJI HIỆU QUẢ NHẤT

Liên tưởng hình ảnh

Nếu như học Kanji là một cực hình vì độ khó kinh khủng của nó, thì cách học bằng liên tưởng hình ảnh sẽ là một phương pháp thú vị giúp bạn xóa bay cơn nhàm chám.

Ví dụ:

_ Chữ Tưởng 想 gồm chữ 相 tương + 心tâm = 木mộc + 目mục +心tâm

_ Chữ Vọng 望 gồm chữ 亡vong, 月nguyệt, 王vương

_ Chữ Xuân 春 gồm chữ 三 tam +伔nhân +日nhật

Để vận dụng tốt phương pháp này bạn nên tham khảo bài viết Cách học Kanji theo bộ

Học theo âm Hán Việt

Biết nhiều âm Hán Việt của chữ Kanji, bạn sẽ có lợi thế học nhanh hơn bởi tiếng Nhật dùng rất nhiều các từ giống như từ Hán Việt dù mặt ý nghĩa có thể khác đôi chút so với tiếng Việt chuẩn.

Ví dụ:

_創造 Souzou Sáng tạo

_自由 Jiyuu Tự do

_ 質量 Shitsu Ryou Chất lượng

_幸福 Koufuku Hạnh phúc

Nắm rõ bản chất và phương pháp học Kanji hiệu quả sẽ giúp bạn đơn giản hóa và rút ngắn thời gian ghi nhớ bảng chữ cái Kanji. Ngoài cách học thuộc lòng chúng ta không còn cách nào khác để nhớ được chữ Hán. Mà học thuộc, học vẹt là “kẻ thù” của thành công chinh phục ngôn ngữ, vậy tại sao không sáng tạo cho mình những bí quyết học thú vị, vừa thư giản vừa luyện tập ghi nhớ bảng chữ cực kỳ tốt.

Và chắc chắn những chia sẻ trên bài viết sẽ giúp ích rất nhiều cho quá trình trở thành Pro Kanji của bạn đấy ^^ !Đối với người học tiếng Nhật, điều làm họ cảm thấy khó khăn và muốn bỏ cuộc giữa chừng nhất chính là học chữ Hán (hay còn gọi là chữ Kanji). Thế điều gì đã làm cho chữ Hán trở thành nỗi ” ám ảnh” kinh hoàng của mọi người như vậy?

Học bảng chữ cái tiếng Nhật hiệu quả nhất

NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH BẢNG CHỮ CÁI KANJI

Xuôi dòng lịch sử, ta trở về với thuở khai nguyên ngôn ngữ Nhật Bản, có thể thấy rằng trong hệ thống chữ viết tiếng Nhật đã sử dụng ba bộ chữ cái chính đó là Hiragana, Katakana và Kanji.

Chương trình du học Nhật Bản 2024: Tại đây

Có 2 loại chữ Hán

Quốc tự có thể hiểu nôm na là những từ Kanji được chế ra tại Nhật, chữ Hán riêng của người Nhật, còn được gọi với tên khác là Wasei kanji (和 製 漢 字). Đến hiện tại, số lượng từ Quốc tự đã lên đến hàng trăn chữ, một số từ ít được sử dụng, tuy nhiên chúng đã góp phần trong việc cấu thành ngôn ngữ viết tiếng Nhật.

Ví dụ một số từ Quốc tự:

_ 辻 tsuji (ngã tư đường)

_ 働 dō, hatara(ku) (làm việc)

_ 畑 hatake (cánh đồng)

Quốc huấn là những chữ Kanji có nghĩa được dùng trong tiếng Nhật khác một phần hoặc hoàn toàn so với nghĩa gốc của tiếng Trung Quốc.

Ví dụ:

_ 沖 oki (ngoài khơi; tiếng Trung: chōng rửa)

_ 椿 tsubaki (cây sơn trà Nhật Bản; tiếng Trung: chūn cây xuân )

2 cách đọc chữ hán

On’yomi hay còn gọi là âm On là cách đọc chữ Kanji kiểu Hán – Nhật.

Vào thời điểm chữ hán mới được du nhập vào nước Nhật, người dân bản địa đã có quá trình Nhật hóa cách phát âm tiếng Hán của chúng.Một số lượng lớn từ kanji đến từ các vùng miền khác nhau của Trung Hoa đã dẫn đến việc có nhiều cách đọc âm On và 1 từ có nhiều nghĩa khác nhau.

Ví dụ:

_ 働 (động) “làm việc” : Cách đọc On’yomi là dō

_ 腺 (tuyến): Cách đọc On’yomi là sen.

Đây là cách đọc dựa trên cách phát âm của một từ tương đương, gần giống nhất trong tiếng Nhật làm cách đọc tiêu chuẩn cho âm Kun.

Vài trường hợp, Kanji chỉ có âm On mà không có âm Kun. Hầu hết, các ký tự Kanji do người Nhật tự tạo ra chỉ có cách đọc Kun mà không có cách đọc On.

Khi nào đọc Kanji bằng âm Kun và khi nào đọc âm On?

Quy tắc cơ bản nhất để phân loại trường hợp phát âm chữ Hán đó là:

Một ký tự biểu diễn một từ đơn nhất, thường được đọc bằng cách đọc kun’yomi.

Chúng có thể được viết cung với Okurigana (送り伖名, おくりがな) được hiểu là các ký tự đi kèm, là các hậu tố Kana theo sau các ký tự Kanji để biểu đạt biến cách kết thúc của động từ hay tính từ.

Ví dụ:

_ 情け nasake “sự cảm thông”

_ 赤い akai “đỏ”

_ 新しい atarashii “mới”

_ 見る miru “nhìn”

_ Các từ ghép kanji được đọc bằng On’yomi.

Ví dụ:

_ 情報 jōhō “thông tin”

_ 学校 gakkō “trường học”

Tuy nhiên, quy tắc này cũng có ngoại lệ trong một số trường hợp vì có những từ ghép được đọc bằng âm Kun mà không đọc bằng âm On.

Ví dụ:

_ 手紙 tegami “thư”

_ 日傘 higasa “cái ô”

BẢNG CHỮ CÁI KANJI TIẾNG NHẬT

Hiện tại, trong từ điển chữ Hán có khoảng 5 vạn chữ Kanji. Tuy nhiên, đối với người học tiếng Nhật các bạn chỉ cần nhớ tầm 2000 chữ Kanji thông dụng nhất là quá ” ngon” rồi. Những chữ này sẽ được sử dụng rộng rãi trong đời sống và sinh hoạt thường ngày hay cả trong công việc, học tập.

Download bộ tài liệu kanji

CÁCH HỌC BẢNG CHỮ CÁI KANJI HIỆU QUẢ NHẤT

Liên tưởng hình ảnh

Nếu như học Kanji là một cực hình vì độ khó kinh khủng của nó, thì cách học bằng liên tưởng hình ảnh sẽ là một phương pháp thú vị giúp bạn xóa bay cơn nhàm chám.

Ví dụ:

_ Chữ Tưởng 想 gồm chữ 相 tương + 心tâm = 木mộc + 目mục +心tâm

_ Chữ Vọng 望 gồm chữ 亡vong, 月nguyệt, 王vương

_ Chữ Xuân 春 gồm chữ 三 tam +伔nhân +日nhật

Để vận dụng tốt phương pháp này bạn nên tham khảo bài viết Cách học Kanji theo bộ

Học theo âm Hán Việt

Biết nhiều âm Hán Việt của chữ Kanji, bạn sẽ có lợi thế học nhanh hơn bởi tiếng Nhật dùng rất nhiều các từ giống như từ Hán Việt dù mặt ý nghĩa có thể khác đôi chút so với tiếng Việt chuẩn.

Ví dụ:

_創造 Souzou Sáng tạo

_自由 Jiyuu Tự do

_ 質量 Shitsu Ryou Chất lượng

_幸福 Koufuku Hạnh phúc

Nắm rõ bản chất và phương pháp học Kanji hiệu quả sẽ giúp bạn đơn giản hóa và rút ngắn thời gian ghi nhớ bảng chữ cái Kanji. Ngoài cách học thuộc lòng chúng ta không còn cách nào khác để nhớ được chữ Hán. Mà học thuộc, học vẹt là “kẻ thù” của thành công chinh phục ngôn ngữ, vậy tại sao không sáng tạo cho mình những bí quyết học thú vị, vừa thư giản vừa luyện tập ghi nhớ bảng chữ cực kỳ tốt.

Và chắc chắn những chia sẻ trên bài viết sẽ giúp ích rất nhiều cho quá trình trở thành Pro Kanji của bạn đấy ^^ !

Cách Tra Và Viết Chữ Kanji

Học tiếng Nhật: Chào các bạn, bài viết này chúng tôi xin phép được giới thiệu với cách bạn cách tra cách viết chữ kanji trực tuyến. Tại sao chúng ta cần biết cách viết chữ kanji? Bởi vì nếu bạn viết đúng cách thì chữ vừa đẹp lại vừa nhanh.

Nguyên tắc chung để viết kanji:

1. Nếu có nét sổ giữa, viết nét sổ giữa trước.

Ví dụ: Chữ “trung” 中, “sơn” 山

Nét sổ giữa được viết trước, lý do: Nếu bạn viết các nét khác trước rồi sổ giữa sau thì sẽ rất khó để sổ sao cho cân hai bên, và kết thúc nét khớp với các nét khác rất khó. Còn các nét ngang thì nhìn chung là viết dễ khớp với các nét đã có hơn.

2. Viết từ trái sang phải, từ trên xuống dưới

Chữ “khẩu”口: Gồm 3 nét, đầu tiên bạn viết gạch bên trái, sau đó viết gạch trên và phải trong một nét, cuối cùng đóng lại bằng nét gạch ngang.

Chữ “mộc” 木: Gồm 4 nét, đầu tiên là gạch ngang, rồi gạch dọc, sau đó là gạch chéo bên trái từ trên xuống, rồi đến gạch chéo bên phải từ trên xuống.

Chữ “nhật” 日: Viết nét trái trước, rồi nét đóng khung (gồm nét trên và nét phải), sau đó đến nét giữa rồi nét gạch ngang bên dưới.

Chữ “thảo” 草: Viết bộ “thảo” trước rồi đến chữ “tảo” 早.

3. Chữ có bao ngoài: Viết khung ngoài trước trừ gạch ngang bên dưới, viết phần bên trong theo quy tắc trên rồi đóng gạch ngang bên dưới.

Ví dụ: Chữ “quốc” 国.

4. Chữ có bộ bên trái thì viết bộ trái trước. Chữ có bộ bên trên thì viết bộ bên trên trước.

Ví dụ: Chữ “khát” 渇 (bộ thủy bên trái), “học” 学 (bộ bên trên).

Tra cách viết chữ kanji trong tiếng Nhật

Trang web có giao diện như sau:

Ô nhập chữ (1): Ở góc trên bên trái trang web, là nơi bạn gõ hoặc dán chữ kanji vào. Chú ý là nếu bạn cho một chữ không phải kanji hay cho hai chữ thì sẽ bị báo lỗi. Ví dụ: Nhập chữ 芳.

Nút (2) ngay cạnh ô (1): Ấn nút này để tra.

Nút (3) 筆順アニメ: Mô phỏng bằng hình động cách viết. Cách viết sẽ được lặp lại khi kết thúc.

Nút (4) コマ送り: Ấn nút này để xem cách viết từng nét một.

Lựa chọn (5) グリッド: Chọn ô này để hiện lưới.

Mục (6) 画数: Số nét.

Mục (7) 部首: Tên bộ của chữ.

Mục (8) 音訓(読み): Cách đọc. Cách đọc on-yomi (cách đọc Hán Nhật) sẽ được viết bằng chữ katakana, còn cách đọc kun-yomi thì được viết bằng hiragana.

Mục (9): Giải thích các viết và các quán ngữ 4 chữ kanji (gọi là 四字熟語). Ví dụ, với chữ “phương” 芳:

一言芳恩 (いちごんほうおん) Nhất ngôn phương ân

芳声嘉誉 (ほうせいかよ) Phương thanh gia dự

蘭桂騰芳 (らんけいとうほう) Lan quế đằng phương

流芳後世 (りゅうほうこうせい) Lưu phương hậu thế = Để tiếng thơm cho đời sau

Chữ “mai” 梅, phần giải thích và “quán ngữ bốn chữ” trong tiếng Nhật sẽ là:

きへんに、「毎」です。Sau bộ “mộc” là chữ “毎”.

最後は横線です。Cuối cùng là nét ngang.

「紅梅(コウバイ)」 hồng mai、「松竹梅(ショウチクバイ)」 tùng trúc mai、「梅雨(バイウ・つゆ)」 mai vũ、「梅園(バイエン)」 mai viên = vườn mơ、「梅見(うめみ)」 ngắm hoa mai、「梅酒(うめしゅ)」 rượu mơ、「梅林(バイリン)」 mai lâm = rừng mơ.

妻梅子鶴 (さいばいしかく) Thê mai tử hạc

止渇之梅 (しかつのうめ) Mơ giải cơn khát

梅妻鶴子 (ばいさいかくし) Mai thê hạc tử

梅酸止渇 (ばいさんしかつ) Mai toan chỉ khát (mơ chua giải cơn khát)

梅林止渇 (ばいりんしかつ) Mai lâm chỉ khát

望梅止渇 (ぼうばいしかつ) Vọng mai chỉ khát

和羹塩梅 (わこうあんばい)

Ngoài ra, bạn có thể chọn chữ bất kỳ từ bản chữ hán thường dụng trong tiếng Nhật (joyo kanji) theo đường dẫn sau của trang web:

http://kakijun.main.jp/main/joyo_ichiran.html

Bảng Chữ Cái Tiếng Nhật Hiragana, Katakana, Kanji

Tổng quan về các bảng chữ cái tiếng Nhật

Đầu tiên là bộ chữ cái Hiragana, Hiragana có thể coi là bộ chữ mềm cơ bản nhất trong Tiếng Nhật mà mỗi người học Tiếng Nhật đều phải nắm vững đầu tiên. Bảng chữ Hiragana gồm có 46 chữ cái, trong đó có 5 nguyên âm chính, khi tập viết chữ Hiragana, chữ được nằm trong một ô vuông và chữ viết phải được nằm cân đối trong ô vuông đấy.

Hiragana (Kanji: 平伖名, âm Hán Việt: Bình giả danh[1]; Hiragana: ひらがな; Katakana: ヒラガナ) còn gọi là chữ mềm là một dạng văn tự biểu âm truyền thống của tiếng Nhật, một thành phần của hệ thống chữ viết Nhật Bản, cùng với katakana (片伖名) và kanji (漢字); bảng ký tự Latinh, rōmaji, cũng được dùng trong một số trường hợp. Hiragana và katakana đều là các hệ thống kana, có đặc điểm là mỗi ký tự biểu diễn một âm tiết. Mỗi chữ kana hoặc là một nguyên âm (như a 「あ」); một phụ âm đi cùng với một nguyên âm (như ka 「か」); hoặc n 「ん」, một âm gảy, sẽ tùy vào âm ở sau mà phát âm thành [ɴ], [m], [n], [ŋ] hoặc nếu đứng ở trước nguyên âm sẽ trở thành nguyên âm mũi.

Theo: https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiragana

[dt_albums orderby=”title” category=”bang-chu-cai-hiragana”]

[dt_albums posts_per_page=”2″ orderby=”title” category=”hiragana”]

Katakana(kanji: 片伖名, âm Hán Việt: phiến giả danh[1]; katakana: カタカナ hay Hiragana: かたかな) là một thành phần trong hệ thống chữ viết truyền thống của Nhật Bản, bên cạnh hiragana, kanji và đôi khi còn để viết phiên âm chữ cái Latin. Từ “katakana” có nghĩa là “kana chắp vá”, do chữ katakana được hợp thành từ nhiều thành phần phức tạp của Kanji.

Katakana được tạo thành từ các nét thẳng, nét cong và nét gấp khúc, là kiểu chữ đơn giản nhất trong chữ viết tiếng Nhật.

Katakana có hai kiểu sắp thứ tự thường gặp: Kiểu sắp xếp cổ iroha (伊呂波), và kiểu thường dùng thịnh hành gojūon (五十音).

https://vi.wikipedia.org/wiki/Katakana

Kanji (漢字 (かんじ) Hán tự?), là loại chữ tượng hình mượn từ chữ Hán (hànzì),[1] được sử dụng trong hệ thống chữ viết tiếng Nhật hiện đại cùng với hiragana và katakana. Thuật ngữ tiếng Nhật kanji dùng để chỉ các kí tự Trung Quốc nghĩa đen là ” chữ Hán” (Hán tự)[2] và nó được viết cùng kí tự với từ tiếng Trung hànzì.[3]

https://vi.wikipedia.org/wiki/Kanji

Các bộ thủ chữ Kanji thường gặp

Link download các bảng chữ cái: https://drive.google.com/file/d/0B7pZW9D4bkh1NTBxaFlOcEt1WUE/view?usp=sharing

Cách Để Đọc Bản Nhạc Cho Người Mới Chơi

Kiến thức Cơ bản

1. Hiểu rõ khuông nhạc.

Trước khi bạn bắt đầu học nhạc, bạn cần phải nắm được một số kiến thức mà bất kỳ ai cũng phải biết khi học nhạc. Những đường kẻ ngang trên bản nhạc được gọi là “khuông nhạc”. Đây là ký hiệu âm nhạc cơ bản nhất và là nền tảng cho tất cả mọi thứ trong âm nhạc.

Khuông nhạc bao gồm năm dòng kẻ ngang song song, ở giữa chúng đều có khoảng cách (gọi là khe). Cả dòng kẻ và các khe đều được đánh số để dễ ghi nhớ, và luôn được đánh thứ tự từ thấp (đáy khuông nhạc) đến cao (đỉnh khuông nhạc).

2. Hãy bắt đầu với Khóa Treble.

Một trong số những điều đầu tiên bạn sẽ gặp khi học nhạc, đó là “Khóa nhạc”. Ký hiệu uốn lượn ở đầu bên trái của khuông nhạc đó sẽ cho bạn biết cữ âm của bản nhạc cần chơi. Mọi loại nhạc cụ và giọng hát ở âm vực cao đều thuộc cữ âm của khóa Treble. Trong bài viết cơ bản về cách đọc bản nhạc này, chúng ta sẽ chỉ sử dụng khóa Treble trong mọi ví dụ.

Khóa Treble, hay còn gọi là khóa Sol, được bắt nguồn và cách điệu từ chữ G trong tiếng La-tinh. Có một cách rất hay để nhớ điều này, đó là nét uốn tròn ở chính giữa khóa Sol có hình dạng giống chữ G. Khi ghi các nốt nhạc vào khuông nhạc có khóa Sol, chúng sẽ có thứ tự như sau:

Năm dòng kẻ, tính từ dưới lên, sẽ ghi những nốt nhạc sau: E G B D F.

Bốn khe, tính từ dưới lên, sẽ ghi những nốt nhạc sau: F A C E.

Điều này có thể hơi khó nhớ, nhưng bạn có thể áp dụng một số mẹo sau để ghi nhớ dễ dàng hơn. Đối với những nốt nhạc nằm trên dòng kẻ, bạn có thể ghi nhớ câu: “Em Gọi Bạn Đi Fượt”. Đối với những nốt nhạc nằm ở khe, bạn có thể nhớ là: “Fải Ăn Cùng Em”. Luyện tập với công cụ nhận diện nốt nhạc trực tuyết cũng là một cách tuyệt vời để nhớ được thứ tự này.

3. Nắm được kiến thức về Khóa Bass.

Khóa Bass hay còn gọi là khóa Fa, được sử dụng với những nhạc cụ có quãng âm thấp hơn, ví dụ như phần đệm tay trái của đàn piano, đàn guitar bass, kèn trombone…

Khóa Fa có nguồn gốc từ chữ F trong nhóm ngôn ngữ Gothic. Hai dấu chấm của khóa Fa sẽ nằm ở hai khe trên và dưới dòng kẻ của nốt Fa trên khuông nhạc. Khuông nhạc chứa khóa Fa sẽ có thứ tự các nốt khác với khóa Sol.

Năm dòng kẻ, tính từ dưới lên trên, sẽ ghi các nốt sau: G B D F A (“Gọi Bạn Đi Fượt À?”).

Bốn khe, tính từ dưới lên trên, sẽ ghi các nốt sau: A C E G (“Ăn Cùng Em Gái.”).

4. Học về các bộ phận của một nốt nhạc.

Một nốt nhạc bao gồm tối đa 3 bộ phận: Đầu, thân và đuôi.

Đầu nốt nhạc. Đây là một hình bầu dục được để trống (trắng) hoặc tô kín (đen). Chức năng cơ bản nhất của nó là báo cho nhạc công biết họ sẽ chơi nốt nào trên nhạc cụ của mình.

Thân nốt nhạc. Đây là một đường thẳng được vẽ liền với đầu nốt nhạc. Nếu thân nốt nhạc hướng lên trên, nó sẽ được vẽ ở phía bên phải đầu nốt nhạc Nếu thân nốt nhạc hướng xuống dưới, nó sẽ được vẽ ở phía bên trái đầu nốt nhạc. Hướng của thân nốt nhạc không có ảnh hưởng gì tới nốt nhạc đó, nhưng nó khiến các nốt dễ đọc hơn và nhìn đỡ rối mắt hơn.

Quy tắc chung khi vẽ thân nốt nhạc là: đối với các nốt nhạc nằm từ dòng kẻ thứ ba trở lên, thân nốt nhạc sẽ hướng xuống dưới, và đối với các nốt nhạc nằm dưới dòng kẻ thứ ba, thân nốt nhạc sẽ hướng lên trên.

Đuôi nốt nhạc. Đây là một nét uốn lượn được vẽ tại đầu còn lại của thân nốt nhạc. Dù thân nốt nhạc đang ở bên trái hay bên phải của nốt nhạc, phần đuôi “luôn” được vẽ ở phía bên phải phần thân chứ không bao giờ ở bên trái.

Ba bộ phận đầu, thân và đuôi nốt nhạc sẽ cho nhạc công biết mỗi nốt nhạc có giá trị như thế nào về mặt nhịp phách. Khi bạn nghe nhạc và bạn giậm chân nhịp nhàng với giai điệu, bạn đã nắm bắt được nhip điệu của bản nhạc đó.4.

Nhịp và Phách

1. Học về vạch nhịp.

Trong bản nhạc, bạn sẽ thấy có những đường chia khuông nhạc những quãng đều nhau. Những vạch đó thể hiện một “ô nhịp”. Khoảng trống ở trước vạch thứ nhất là ô nhịp đầu tiên. Khoảng trống giữa vạch thứ nhất và vạch thứ hai là ô nhịp thứ hai, và cứ tiếp tục như vậy. Các vạch nhịp không ảnh hưởng gì đến bản nhạc, nhưng chúng giúp người biểu diễn dễ theo dõi bản nhạc hơn.

2. Học về nhịp, hoặc số nhịp.

Nhịp là nhịp điệu của bài hát. Bạn có thể cảm nhận được nó một cách tự nhiên khi bạn nghe nhạc pop hoặc nhạc dance, đó là âm thanh “bùm, chát, bùm, chát” hoặc một bài nhạc dance kinh điển cũng có thể minh họa rõ về nhịp.

Trên bản nhạc, nhịp được thể hiện bằng một ký hiệu giống như một phân số ở ngay bên cạnh khóa nhạc. Cũng như một phân số, nó có tử số và mẫu số. Tử số được viết tại hai dòng trên cùng của khuông nhạc, nó cho biết có bao nhiêu phách trong một nhịp. Mẫu số cho biết một phách (mỗi lần giậm chân) có giá trị kéo dài bằng bao nhiêu nốt nhạc (nốt đen).

Nhịp 4/4 có lẽ là loại nhịp dễ hiểu nhất, hoặc “phổ biến” nhất. Đối với nhịp 4/4, mỗi ô nhịp sẽ có 4 nhịp và mỗi nhịp tương đương với một phách. Đây là loại nhịp bạn thường gặp trong các bản nhạc khá thịnh hành. Bạn có thể đếm theo nhịp này bằng cách gõ “1-2-3-4” theo đúng nhịp bài hát.

Khi thay đổi tử số, chúng ta sẽ thay đổi số phách trong một nhịp. Một loại nhịp khá phổ biến khác là nhịp ¾. Ví dụ, phần lớn các điệu nhạc waltz (nhạc van-sơ) sẽ có nhịp “1-2-3 1-2-3” đều đặn, nên chúng có 3 phách trong một ô nhịp.

Một số nhịp sẽ được hiển thị bằng chữ C thay vì hai con số. Nhịp 4/4 thường được thể hiện là một chữ C lớn có nghĩa là nhịp Thường. Cũng như vậy, nhịp 2/4 mét được thể hiện dưới dạng một chữ C lớn với đường kẻ dọc qua nó. Chữ C với đường kẻ qua nó là biểu thị của nhịp Ngắt.

Nhịp điệu

1. Hãy cảm nhận nhịp điệu.

Cũng như nhịp và phách, “nhịp điệu” là một phần quan trọng đối với sắc thái của một bản nhạc. Tuy nhiên, trong khi nhịp phách chỉ cho bạn biết số nhịp của bản nhạc, nhịp điệu sẽ cho bạn biết các nhịp được sắp xếp thế nào.

Hãy thử làm việc này: gõ ngón tay xuống mặt bàn, rồi đếm 1-2-3-4 1-2-3-4 đều đặn. Không thú vị lắm, phải không? Giờ hãy thử việc này: ở nhịp 1 và 3, gõ mạnh hơn, ở nhịp 2 và 4 thì gõ nhẹ hơn. Vậy là nghe đã rất khác rồi. Giờ hãy thử ngược lại: gõ mạnh ở nhịp 2 và 4, gõ nhẹ ở nhịp 1 và 3.

2. Hãy tưởng tượng mình đang đi bộ.

Mỗi bước chân sẽ là một nhịp. Những nhịp đó được thể hiện bằng nốt đen, bởi vì trong âm nhạc phương Tây (nghĩa là toàn bộ âm nhạc ở khu vực đó chứ không chỉ riêng nhạc của Hank Willian), mỗi ô nhịp đều có bốn nhịp tương đương với bốn nốt đen. Nhịp điệu trong bước chân của bạn sẽ như thế này:

Mỗi bước chân là một nốt đen. Trên bản nhạc, nốt đen là một nốt có màu đen, có thân và không có đuôi. Bạn có thể đếm theo từng bước chân theo nhịp “1, 2, 3, 4 – 1, 2, 3, 4”.

Nếu bạn giảm tốc độ xuống bằng một nửa, nghĩa là bạn chỉ bước 1 bước vào nhịp 1 và một bước vào nhịp 3, các bước đó sẽ được ký hiệu bằng nốt trắng (có giá trị bằng nửa ô nhịp). Trong bản nhạc, nốt trắng trông giống nốt đen nhưng chúng không được tô đen mà để trắng phần đầu nốt nhạc.

Nếu bạn đi chậm hơn nữa, nghĩa là cứ mỗi bốn nhịp thì bạn chỉ bước một bước vào nhịp 1, bạn sẽ ký hiệu bước đó bằng nốt tròn – mỗi ô nhịp một nốt. Trên bản nhạc, nốt tròn trông giống như một chữ O hoặc một chiếc bánh rán vòng, hơi giống nốt đen nhưng không có thân.

3. Hãy tăng tốc độ lên!

Đi chậm vậy là đủ rồi. Như bạn đã thấy, khi chúng ta đi chậm lại, các nốt nhạc sẽ mất dần các bộ phận. Đầu tiên, chúng ta bỏ màu khỏi đầu nốt nhạc, sau đó, chúng ta bỏ thân nốt nhạc. Giờ hãy thử tăng nhịp điệu lên. Để làm vậy, chúng ta sẽ thêm các bộ phận cho nốt nhạc.

Để khiến nhịp điệu của bản nhạc trở nên nhanh hơn, chúng ta sẽ vẽ thêm đuôi cho các nốt nhạc. Mỗi chiếc đuôi sẽ làm giảm một nửa giá trị của nốt nhạc. Ví dụ, nốt móc đơn (có một chiếc đuôi) có giá trị bằng nửa nốt đen; và nốt móc đôi/ móc kép (có hai chiếc đuôi) sẽ có giá trị bằng nửa nốt móc đơn. Khi bạn đi bộ, tăng nhịp điệu là khi bạn chuyển từ đi bộ (nốt đen) sang chạy (nốt móc đơn) – nhanh gấp đôi so với đi bộ, rồi sang chạy nước rút (nốt móc đôi) – nhanh gấp đôi lúc chạy.

4. Chùm các nốt.

Như bạn thấy ở các ví dụ trên, mọi thứ sẽ trở nên khá rối rắm nếu trên trang giấy có một loạt các nốt nhạc như thế. Bạn sẽ cảm thấy mắt mình như bị lác và hoàn toàn mất dấu vị trí đoạn nhạc mình đang chơi. Để nhóm các nốt nhạc thành những tập hợp gọn gàng và dễ nhìn hơn, chúng ta sẽ dùng tới các “chùm nốt”.

5. Tìm hiểu giá trị của dấu nối và dấu chấm dôi.

Khi thêm đuôi, giá trị của một nốt nhạc sẽ giảm đi một nửa, còn khi thêm dấu chấm dôi, giá trị của nốt nhạc sẽ tăng thêm một nửa. Ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ mà chúng ta sẽ không nhắc tới ở đây, dấu chấm dôi luôn nằm ở bị trí bên phải đầu nốt nhạc. Khi bạn thấy nốt nhạc có dấu chấm dôi, giá trị của nốt nhạc đó sẽ tăng gấp rưỡi so với giá trị ban đầu của nó.

Ví dụ, một nốt trắng có dấu chấm dôi sẽ có giá trị bằng nốt trắng cộng thêm một nốt đen. Một nốt đen có dấu chấm dôi sẽ có giá trị bằng một nốt đen cộng một nốt móc đơn.

Dấu nối cũng gần giống dấu chấm dôi – chúng làm tăng giá trị của nốt nhạc. Dấu nối là một đường cong nối phần đầu của hai nốt nhạc với nhau. Khác với tính chất trừu tượng và có giá trị phụ thuộc vào nốt mà nó ở cạnh của dấu chấm dôi, dấu nối rất dễ hiểu: giá trị của nốt nhạc sẽ được kéo dài bằng đúng giá trị của nốt thứ hai.

Một lí do khác để sử dụng dấu nối thay vì dấu chấm dôi là khi giá trị của nốt nhạc bị thừa trong ô nhạc. Lúc đó, bạn chỉ cần dùng thêm một nốt nhạc bằng đúng phần giá trị bị thừa và dùng một dấu nối giữa hai nốt nhạc đó là được.

Luôn ghi nhớ là dấu nối được đặt giữa đầu của hai nốt nhạc, ở vị trí đối lập với đuôi nốt nhạc.

6. Dấu lặng.

Vài người cho rằng: âm nhạc chỉ là một tổ hợp của các nốt nhạc, họ chỉ nói đúng một nửa. Âm nhạc là một chuỗi các nốt nhạc và cả những khoảng lặng giữa chúng. Đó chính là các “dấu lặng”, và nhờ có chúng, âm nhạc mới có cảm xúc và sức sống. Hãy xem chúng được ký hiệu như thế nào.

Cũng như các nốt nhạc, các dấu lặng cũng có các ký hiệu riêng cho từng trường độ. Một dấu lặng tròn là một hình chữ nhật đen nằm ngay dưới dòng kẻ thứ tư. Dấu lặng đen là hình chữ nhật đen nằm ngay trên dòng kẻ thứ ba. Dấu lặng đơn là một nét gãy. Các dấu lặng còn lại bao gồm một nét gãy với số đuôi tương tương với giá trị của nốt nhạc có cùng số đuôi. Đuôi dấu lặng luôn hướng về phía bên trái.

Giai điệu

1. Chúng ta đã nắm được một số điều cơ bản:

khuông nhạc, các bộ phận của nốt nhạc, cách ghi nốt nhạc và dấu lặng. Hãy hiểu kĩ những kiến thức trên và bắt đầu đi vào phần thú vị nhất: đọc bản nhạc!

2. Học về thang âm Đô trưởng.

Thang âm Đô trưởng là thang âm cơ bản trong âm nhạc phương Tây. Phần lớn các thang âm mà bạn sắp học đều bắt nguồn từ đây. Khi bạn đã ghi nhớ được nó, bạn sẽ dễ dàng nắm bắt được phần còn lại.

Đầu tiên, hãy xem thang âm này trông thế nào, sau đó là tới cách đọc hiểu nó và đọc hiểu một bản nhạc. Trong bản nhạc, trông nó sẽ thế này. Hãy xem “thang âm Đô trưởng” ở hình trên.

Nhìn vào nốt nhạc đầu tiên, nốt Đô trầm, bạn sẽ thấy nó nằm dưới khuông nhạc. Lúc đó, chỉ cần thêm một dòng kẻ phụ riêng cho nốt đó – vì vậy, nốt Đô trầm có một dòng kẻ nhỏ qua đầu nốt nhạc. Nốt nhạc càng trầm thì càng có nhiều dòng kẻ phụ. Nhưng hiện tại, chúng ta sẽ không cần quan tâm tới việc đó.

Thang âm Đô trưởng có tám nốt nhạc. Những nốt nhạc này tương đương với các phím trắng trên đàn piano.

Bạn có thể đã có hoặc chưa có đàn piano, nhưng lúc này, một cây đàn lại rất quan trọng để bạn không chỉ nhận ra các nốt nhạc trông như thế nào mà còn “nghe” như thế nào nữa.

3. Bạn có thể tập đọc nốt nhạc (thị tấu) – hay còn gọi là “xướng âm”.

Nghe thì có vẻ “bác học” nhưng có thể bạn cũng đã biết nó rồi: đó chỉ là cách chúng ta hát các nốt “Đồ, Rê, Mí” thôi.

Có thể bạn đã biết bài hát “Do-Re-Mi” của Rogers và Hammerstein trong bộ phim “The Sound of Music”. Nếu bạn có thể hát được theo thang âm Đô trưởng, hãy vừa hát vừa nhìn vào các nốt nhạc.

Đây là bài luyện tập ở trình độ cao hơn, nâng và hạ cao độ khi xướng âm theo thang âm Đô trưởng. Hãy xem “Xướng âm thang âm Đô trưởng 1” ở trên.

Tập xướng âm – phần II vài lần cho tới khi bạn đã nắm chắc kĩ thuật này. Trong vài lần đầu tiên, hãy làm thật chậm để bạn có thể nhìn từng nốt nhạc khi hát. Trong những lần sau, hãy thay các chữ “do re mi” bằng ký hiệu C, D, E. Mục tiêu là bạn phải hát được đúng cao độ.

Hãy nhớ giá trị nốt nhạc mà chúng ta vừa đề cập lúc nãy: Nốt Đô cao ở cuối dòng kẻ đầu tiên, và nốt Đô trầm ở cuối dòng kẻ thứ hai đều là nốt trắng, các nốt còn lại đều là nốt đen. Nếu bạn tưởng tượng mình đang đi bộ, cứ mỗi nốt nhạc là một bước chân. Nốt trắng sẽ tương đương hai bước chân.

Dấu thăng, Dấu giáng, Dấu bình và Dấu hóa

1. Hãy đi tới bước tiếp theo.

Chúng ta đã học những kiến thức cơ bản nhất về nhịp điệu và giai điệu,và bạn cũng đã có thể nắm được những điều cơ bản nhất về các dấu chấm dôi và dấu nghỉ. Như thế này là đủ để bạn tham gia lớp sáo flutophone cơ bản, tuy nhiên vẫn còn vài điều mà bạn nên biết. Một trong số đó là các dấu hóa.

Có thể bạn đã từng nhìn thấy dấu thăng và dấu giáng trong bản nhạc: dấu thăng nhìn giống ký hiệu hash tag (♯) và dấu giáng nhìn giống chữ B viết thường (♭). Chúng sẽ được đặt ở bên trái của nốt nhạc, và cho biết nốt nhạc đó sẽ được nâng lên (dấu thăng) hoặc hạ xuống (dấu giáng) nửa cao độ. Thang âm Đô trưởng, như ta đã biết, bao gồm các phím trắng trên đàn piano. Các nốt thăng và giáng chính là các phím đen.

2. Cung và nửa cung.

Trong âm nhạc phương Tây, các nốt nhạc sẽ cách nhau một cung hoặc nửa cung. Hãy nhìn phím Đô trên đàn piano, bạn sẽ thấy giữa nó và phím Rê có một phím đen. Khoảng cách cao độ giữa Đô và Rê được gọi là một cung. Khoảng cách giữa Đô và phím đen đó là nửa cung. Bạn có thể thắc mắc không biết phím đen đó được gọi là gì? Câu trả lời là: “Còn tùy”.

Có một quy tắc rất dễ hiểu: nếu bạn đang nâng dần cao độ, đó sẽ là nốt thăng của nốt liền trước; nếu bạn hạ dần cao độ, đó sẽ là nốt giáng của nốt liền sau. Vì vậy, nếu bạn lần lượt đi từ Đô lên Rê, bạn sẽ sử dụng dấu thăng (♯).

Trong trường hợp đó, phím đen sẽ là nốt Đô thăng (C#). Khi hạ dần cao độ, từ Rê xuống Đô, bạn sẽ sử dụng dấu giáng (♭).

Những quy ước đó sẽ khiến bản nhạc dễ đọc hơn. Nếu bạn định viết ba nốt nhạc cao dần, và đã dùng nốt D♭ thay vì nốt C#, bạn có thể viết dấu bình (♮) ngay bên cạnh nốt Rê thứ ba.

Ở đây, chúng ta có một ký hiệu mới – dấu bình. Khi bạn nhìn thấy dấu bình (♮), điều đó nghĩa là dấu thăng hoặc giáng của nốt nhạc đó đã bị hủy hiệu lực. Trong ví dụ này, nốt thứ hai và thứ ba đều là nốt Rê: đầu tiên là nốt Rê giáng (D♭), vì thế, nốt Rê thứ hai – sau khi đã được nâng lên nửa cung so với nốt Rê trước, phải có một ký hiệu để quay trở lại cao độ bình thường. Một bản nhạc càng có nhiều dấu thăng và giáng, nhạc công càng phải chú ý trước khi chơi nhạc.

Thông thường, các nhạc sỹ vô tình dùng nhầm dấu hóa sẽ thêm các dấu bình “không cần thiết” để nhạc công dễ hiểu bản nhạc hơn. Ví dụ, nếu ở gam Rê trưởng, nhạc sỹ đã sử dụng nốt La thăng (A#) thì nốt La tiếp theo có thể được thêm vào một dấu bình.

3. Hiểu các âm giai.

Chúng ta đã biết thang âm Đô trưởng: bao gồm 8 nốt nhạc, đều là các phím trắng bắt đầu từ nốt Đô. Tuy nhiên, bạn có thể bắt đầu một âm giai từ “bất kỳ” nốt nào. Nếu bạn chỉ chơi các phím trắng, đó không phải là âm giai trưởng mà là “thể nhạc” – điều này không nằm trong phạm vi của bài viết.

Nốt đầu tiên, hay còn gọi là “âm chủ”, chính là tên của hợp âm. Có thể bạn đã từng nghe ai đó nói “bài này chơi ở hợp âm Đô trưởng” hoặc tương tự như vậy. Ví dụ này cho thấy: thang âm đó bắt đầu bằng nốt C và bao gồm các nốt nhạc C D E F G A B C. Các nốt nhạc thuộc các thang âm trưởng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Hãy nhìn vào phím đàn trên.

Hãy nhớ là hầu hết các nốt nhạc đều cách nhau một cung. Nhưng giữa các nốt E và F, B và C chỉ có nửa cung thôi. Phần lớn các thang âm trưởng đều có quy tắc này: một – một – nửa – một – một – một – nửa. Nếu bạn bắt đầu một thang âm từ nốt G, nó sẽ được viết như sau:

Hãy để ý nốt F# gần phía trên cùng. Để sắp xếp theo đúng thứ tự, nốt F phải được nâng lên nửa cung để cách nốt G đúng nửa cung thay vì một cung. Những âm giai như vậy thường rất dễ đọc. Nhưng nếu bạn bắt đầu một thang âm từ nốt C# thì sao? Nó sẽ như thế này:

Mọi thứ bắt đầu phức tạp lên rồi. Để bản nhạc đỡ rối rắm và dễ đọc hơn, dấu hóa đã ra đời. Mỗi thang âm trưởng đều có một bộ dấu thăng và giáng cố định, và chúng sẽ được ghi ở đầu bản nhạc. Hãy nhìn vào âm giai G, ta sẽ thấy có một nốt thăng – F#. Thay vì đặt dấu thăng bên cạnh mọi nốt F trong bản nhạc, ta sẽ đặt dấu thăng ở ngay đầu bên trái của khuông nhạc. Điều đó có nghĩa là mọi nốt F trong bản nhạc này sẽ là nốt F#. Trông nó như thế này:

Cường độ và Sắc thái

1. Hãy trở nên sôi động hoặc êm diu.

Khi bạn nghe nhạc, bạn sẽ nhận ra không phải lúc nào bản nhạc đó cũng có âm lượng đều đều. Có đoạn âm lượng rất lớn và có đoạn nghe rất êm diu. Đó gọi là “cường độ”.

Nếu giai điệu và nhịp là trái tim của một bản nhạc, còn các nốt nhạc và hợp âm là bộ não thì cường độ chính là giọng của bản nhạc. Hãy xem ví dụ đầu tiên.

Hãy gõ lên bàn: 1 và 2 và 3 và 4 và 5 và 6 và 7 và 8… (“và” là từ các nhạc sỹ hay thêm vào khi đọc nhịp). Hãy đập nhịp với âm lượng đều nhau sao cho nghe như tiếng quạt trực thăng. Giờ hãy xem ví dụ thứ hai.

2. Hãy chơi thật êm dịu hoặc mạnh mẽ, hoặc ở giữa hai thái cực đó.

Cũng như việc bạn không bao giờ nói với nhịp điệu đều đều, bạn thường nói to hơn hoặc bé hơn tùy từng trường hợp, âm nhạc cũng có sự thay đổi cường độ như vậy. Các nhà soạn nhạc thường sử dùng những ký hiệu cường độ để đánh dấu.

Bạn có thể trông thấy hàng tá ký hiệu cường độ trong một bản nhạc, nhưng một số ký hiệu thường thấy nhất là các chữ cái f, m, và p.

p nghĩa là “piano,” hoặc là “nhẹ.”

f nghĩa là “forte,” hoặc “mạnh.”

m nghĩa là “mezzo,” or “vừa.” Nó sẽ làm thay đổi kiểu cường độ theo sau nó, như trong mf hoặc mp, nghĩa là “mạnh vừa,” hoặc “nhẹ vừa.”

Bản nhạc càng có nhiều p hoặc f thì bạn càng phải chơi nhạc nhẹ nhàng hoặc mạnh mẽ hơn. Hãy thử hát đoạn nhạc ví dụ trên (sử dụng phương pháp xướng âm – nốt nhạc đầu tiên trong ví dụ này là nốt chủ đạo), và tăng hoặc giảm cường độ như ký hiệu để thấy sự khác biệt.

3. Hãy chơi nhạc to dần hoặc nhỏ dần.

Lời khuyên

Nếu bạn có bản nhạc mà không thể nhớ được các nốt, hãy bắt đầu bằng cách viết tên nốt ở dưới các nốt nhạc. Đừng làm như vậy thường xuyên. Bạn sẽ phải nhớ được tên các nốt nhạc sau này.

Hãy tìm các bản nhạc của những bài hát mà bạn thích. Hãy đến thư viện hoặc các cửa hàng chuyên về âm nhạc, và bạn sẽ tìm thấy hàng trăm – nếu không muốn nói là hàng ngàn – các bản nhạc có lời với những ký âm và hợp âm cơ bản. Hãy đọc bản nhạc khi đang nghe bài hát đó, và bạn sẽ chóng hiểu những gì mình đang đọc hơn.

Hãy vui vẻ khi học nhạc. Nếu bạn không thích nó thì bạn sẽ rất khó nắm bắt.

Hãy kiên nhẫn. Cũng như việc học một ngoại ngữ mới, học nhạc cũng cần có thời gian. Và cũng như học bất kỳ điều gì khác, bạn càng luyện tập nhiều thì nó càng dễ dàng, và bạn sẽ càng giỏi hơn.

Hãy luyện tập kỹ năng xướng âm. Bạn không cần phải có giọng hát hay, nhưng nó sẽ giúp bạn có kỹ năng “nghe” được những nốt nhạc ghi trên giấy.

Hãy luyện tập khi xung quanh đang yên tĩnh hoặc tìm một nơi yên tĩnh. Tốt nhất, bạn nên tập trên đàn piano vì nó rất dễ chơi. Nếu bạn không có piano, hãy dùng một phần mềm chơi piano trực tuyến. Khi bạn đã nắm được vấn đề, bạn sẽ chơi được các nhạc cụ khác. Hy vọng điều này sẽ có ích.

Hãy luyện tập với loại nhạc cụ chủ đạo của bạn. Nếu bạn chơi piano, bạn có thể đã biết cách đọc một bản nhạc. Tuy nhiên, nhiều người chơi guitar lại học bằng cách nghe thay vì đọc. Khi bạn học cách đọc một bản nhạc, hãy quên đi những gì bạn đã biết – hãy học cách đọc nhạc rồi sau đó mới tới chơi nhạc cụ.

Bí quyết ở đây là luyện tập thật nhiều. Học bằng thẻ hoặc dùng sách hướng dẫn đọc nhạc sẽ giúp bạn có một nền tảng vững chắc.

Hãy ghi nhớ những câu sau khi chơi piano: Ở tay phải: “Em Gọi Bạn Đi Fượt” đối với những nốt nhạc nằm trên dòng kẻ; Đối với những nốt nhạc nằm ở khe, bạn có thể nhớ là: “Fải Ăn Cùng Em”. Ở bàn tay trái: “Gọi Bạn Đi Fượt À?” đối với những nốt nhạc nằm trên dòng kẻ; “Ăn Cùng Em Gái.” đối với những nốt nhạc nằm ở khe.

Các loại nốt nhạc thông dụng bao gồm: nốt đen, nốt trắng, móc đơn, móc đôi.

Thanh trượt trên kèn trombone dùng để chơi các nốt thăng và giáng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bảng Chữ Kanji Và Cách Đọc Chuẩn Cho Người Mới 2024 Hot trên website Ezlearning.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!