Xu Hướng 12/2022 # Quy Tắc Đặt Dấu Thanh Trong Tiếng Việt / 2023 # Top 18 View | Ezlearning.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Quy Tắc Đặt Dấu Thanh Trong Tiếng Việt / 2023 # Top 18 View

Bạn đang xem bài viết Quy Tắc Đặt Dấu Thanh Trong Tiếng Việt / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Ezlearning.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thấy một phụ huynh hỏi về cách đặt dấu thanh trong tiếng Việt, BigSchool mang câu hỏi ấy tới nhờ chuyên gia giải đáp. Nhưng hiện nay các giáo viên hoặc phụ huynh vẫn nhầm vì chưa xác định đúng âm chính hoặc sử dụng bộ gõ cũ (bộ gõ word khi đánh máy) nên đặt dấu thanh trên âm đệm.

Xin chia sẻ với các bạn “có đầu, có đuôi” để nắm được quy tắc hiện nay mà con em đang học.

Từ câu hỏi của phụ huynh

Các bạn cho biết, đặt dấu thanh như thế nào là đúng? A hay B?

Đi đến quy tắc đặt dấu thanh

Mỗi tiếng thường có ba bộ phận: âm đầu, vần và thanh (thanh điệu). Trong đó, vần được chia thành 3 bộ phận: âm đệm, âm chính, âm cuối. Có thể khái quát thành sơ đồ sau:

+ Tiếng “bầu” có âm đầu “b”, vần “âu”, thanh “huyền”. Vần “âu” thì “â” là âm chính, “u” là âm cuối.

+ Tiếng “chuyện” có âm đầu “ch”, vần “uyên”, thanh “nặng”. Vần “uyên” thì “u” là âm đệm, “yê” là âm chính, “n” là âm cuối.

Tiếng nào cũng phải có vần và thanh. Có tiếng không có âm đầu.

Tiếng Việt gồm 6 thanh: ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng. Thanh được thể hiện trên chữ viết là dấu thanh (còn gọi là dấu).

– Dấu thanh được đặt trên hoặc dưới kí tự ghi âm chính.

Để hiểu cách ĐẶT DẤU THANH cần biết cách ghi nguyên âm đôi. Trong tiếng Việt có 3 nguyên âm đôi. Chúng đều có nhiều cách ghi:

– Nguyên âm đôi /ua/ được ghi 2 cách:

+ Khi có âm cuối ghi là uô, thí dụ: muốn

+ Khi không có âm cuối ghi là ua, thí dụ: múa

-Nguyên âm đôi /ưa/ được ghi 2 cách:

+ Khi có âm cuối ghi là ươ, thí dụ: mượn

+ Khi không có âm cuối ghi là ưa, thí dụ: cửa

– Nguyên âm đôi /ia/ được ghi 4 cách:

+ Khi có âm cuối + không có âm đệm, ghi là iê, thí dụ: tiến

+ Khi có âm cuối + có âm đệm, ghi là yê, thí dụ: tuyến

+ Khi không có âm cuối + không có âm đệm, ghi là ia, thí dụ: mía

+ Khi không âm cuối + có âm đệm, ghi là ya, thí dụ: khuya

– Khi âm chính chỉ gồm 1 nguyên âm thì dấu thanh đặt vào âm chính. Thí dụ: lá, mạ, mắt, thịt, bút, …

– Khi âm chính là một nguyên âm đôi (thể hiện bằng 2 chữ cái) thì chia làm 2 trường hợp:

+ Khi tiếng có âm cuối, dấu thanh được đặt ở yếu tố đứng sau của âm chính.

Ví dụ: muốn, miến, cường, muộn, tiện, vượng.

+ Khi tiếng không có âm cuối, dấu thanh được đặt ở yếu tố đứng trước của âm chính.

Ví dụ: múa, mía, cửa, lụa, lịa, vựa.

3. Trả lời câu hỏi của phụ huynh

Các bạn có thể nêu câu hỏi ở phần “Ý kiến bạn đọc” ngay dưới bài đăng để chúng tôi trao đổi, giải đáp tiếp.

Cảm ơn sự trao đổi của các bạn.

Quy Tắc Viết Hoa Trong Tiếng Việt Cần Lưu Ý Những Điều Gì? / 2023

Mặc dù trong ngôn ngữ tiếng Việt có rất nhiều thể loại văn bản khác nhau. Nhưng quy tắc viết hoa trong tiếng Việt giữa các văn bản này không có nhiều sự khác biệt, vẫn tồn tại ở đó những quy tắc chính tả, viết hoa trong văn bản xác định cần đúng quy chuẩn được đặt ra. Đặc biệt trong công cuộc “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nhằm mục đích thống nhất và chuẩn hóa ngôn ngữ tiếng Việt tốt hơn với mọi người. Trong đó, vấn đề viết hoa cũng là nội dung quan trọng và được nhiều người quan tâm trong vấn đề này. Viết hoa đúng theo quy định của tiếng Việt không phải là chuyện đơn giản. Bởi, tiếng Việt ngày nay sử dụng mẫu tự Latin nên có quy định về vấn đề viết hoa.

1. Viết hoa phụ âm đầu của chữ đứng đầu câu

Bất kỳ trong trường hợp nào bạn mở đầu một câu đều cần phải viết hoa chữ cái đầu tiên, chữ đầu tiên nếu từ đó không có phụ âm đầu. Đó là sự đánh dấu mốc bắt đầu một câu để người đọc có thể nhận biết, giúp câu văn rõ ràng, mạnh lạc, ý tưởng khúc chiết, dễ tiếp thu. Quy định viết hoa này bắt buộc trong chuẩn chính tả tiếng Việt hiện đại, được thống nhất trên toàn quốc hay sử dụng tiếng Việt ở bất kì nơi đâu khi soạn thảo văn bản và sử dụng tiếng Việt đều cần tuân theo quy định này.

Theo các nhà nghiên cứu, quy định này xác lập chưa lâu lắm. Trong khi, chữ quốc ngữ ra đời vào thế kỷ 17, lúc đó chưa có quy định viết hoa này. Theo sách Phép giảng tám ngày của Alexandre De Rhodes in bản tiếng Latin – Việt năm 1651, quy định viết chữ quốc ngữ là “viết hoa ở đoạn xuống hàng và thụt đầu dòng” còn các câu trong đoạn văn sẽ viết thường tất kể cả chữ cái đầu.

Lối viết hoa chữ cái đầu của một từ xuất hiện vào tháng 4/1865 trên tờ báo Gia Định, tờ báo dùng chữ quốc ngữ đầu tiên ở nước ta. Từ đó, lối viết hoa chữ cái đầu này được áp dụng. Những trường hợp mở đầu một câu như sau:

Mở đầu văn bản, mở đầu đoạn người ta đều viết hoa phụ âm/âm đầu của từ đầu tiên. Đặc biệt cứ sau dấu chấm câu, người ta phải viết hoa phụ âm đầu của từ đứng đầu câu kế tiếp. Cùng với dấu chấm câu còn có dấu chấm hỏi (?), dấu chấm than (!) còn gọi là dấu cảm thán là những dấu kết thúc một câu. Cho nên, từ đứng sau những dấu này đều phải viết hoa phụ âm/âm đầu tiên của từ.

Riêng dấu chấm lửng có những khác biệt một chút. Dấu chấm lửng có thể là để kết thúc một câu, có thể nằm ở giữa câu khi liệt kê hay do ý định của người viết để diễn tả sự ngắt quãng, gây bất ngờ hay muốn kéo dài về âm thanh. Do đó, khi dấu chấm lửng đứng ở cuối câu, từ đầu tiên của câu kế tiếp sẽ phải viết hoa theo quy định. Khi dấu chấm lửng đặt ở giữa câu với những chủ ý của người viết sẽ không viết hoa từ tiếp sau đó.

Ví dụ: Vườn hoa quả trồng nhiều loại cây như mít, chuối, cam, chanh… xanh tươi, rất sai quả.

Lòng ta rộn rã nỗi yêu thương… (trích thơ Hàn Mặc Tử)

1.2. Quy định về viết hoa sau dấu hai chấm

Từ đứng sau dấu hai chấm có trường hợp viết hoa, có trường hợp không. Quy định này vẫn chưa rõ ràng, thống nhất nên có nhiều ý kiến khác nhau.

1.3. Quy định về viết hoa sau dấu chấm phẩy

Đối với dấu chấm phẩy, quy định viết hoa cũng giống như trong dấu chấm lửng, tùy vào từng trường hợp mà viết hoa. Những câu văn ngăn bởi các dấu chấm phẩy khá độc lập về ngữ nghĩa, thông thường, chữ tiếp theo sau vẫn viết thường.

Trong các văn bản hành chính, đặc biệt ở phần “căn cứ”, “xét đề nghị” và “chiếu theo” nêu ở đầu đoạn sẽ xuống dòng và viết hoa theo quy định sau các dấu chấm phẩy.

2. Quy định về viết hoa tu từ

Thông thường, trong quy tắc viết hoa trong tiếng Việt, người ta sẽ không viết hoa danh từ chung nếu không nằm ở đầu câu. Riêng trong những trường hợp nhất định, người ta muốn nhấn mạnh một từ nào đó, muốn từ này mang sắc thái biểu cảm, người ta sẽ viết hoa. Ví dụ: Con Người, hai tiếng vang lên… (M.Gorki)

Như vậy, viết hoa danh từ chung thường thể hiện sự tôn kính, làm câu văn thêm độc đáo hơn. Đây gọi là lối viết hoa tu từ.

Những danh từ chung ghi tước vị, chức vụ, cấp bậc hoặc những yếu tố gắn với tên riêng như các bậc danh nhân thường áp dụng cách viết hoa tu từ. Tuy nhiên, thực tế, cách viết này cũng đa dạng, không có sự thống nhất.

Ví dụ: Phù Đổng Thiên Vương hoặc Phù Đổng thiên vương hay Phù Đổng Thiên vương. Cũng như người ta thường phân vân không biết viết chúa Nguyễn, chúa Trịnh hay Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh; vua Lê, vua Nguyễn hay Vua Lê, Vua Nguyễn. Viết chữ nghè Tân, trạng Quỳnh, tú Xương… hay Nghè Tân, Trạng Quỳnh, Tú Xương… Do đó, đây là hai cách viết vẫn được mọi người sử dụng hiện nay, chưa có sự thống nhất.

Lối viết hoa tu từ có trước so với lối viết hoa cú pháp. Xuất hiện từ khi có chữ quốc ngữ vào thế kỷ 17, viết hoa tu từ và viết hoa cú pháp đều được người Việt sử dụng lâu nay.

Tuy nhiên, cách viết hoa này có một số điểm sẽ đối lập với danh từ chung và danh từ riêng, đặc biệt trong cách viết hoa gọi tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể và sản phẩm. Trong khi đó, cách viết hoa là để phân biệt giữa danh từ riêng và chung trong cách thể hiện văn bản.

3. Quy định về cách viết hoa trong tiếng Việt với danh từ riêng

Theo định nghĩa ấn phẩm Hoạt động của từ tiếng Việt của Đái Xuân Ninh biên soạn do NXB Khoa học xã hội, HN 1978, danh từ riêng chỉ tên gọi của một vật, một người hay một tập thể riêng biệt. Xét về chức năng ý nghĩa, danh từ riêng và danh từ chung có sự phân biệt rõ ràng. Trong đó, danh từ chung dùng để gọi tên một loạt sự vật, không gọi riêng từng sự vật riêng. Điểm khác biệt với danh từ riêng là danh từ chung sẽ chứa đựng nội dung ý nghĩa nhất định, bao gồm cả tên gọi một sự vật duy nhất như mặt trăng, mặt trời.

3.1. Quy định cách viết hoa họ tên người

Dù cùng một họ tên người nhưng người ta sử dụng song song nhiều cách viết hoa khác nhau lâu nay. Ví dụ viết họ tên người Công Huyền Tôn Nữ Lưu Ly hay Công huyện tôn nữ lưu Ly, Công huyền Tôn nữ Lưu Ly, Công – Huyền – Tôn – Nữ – Lưu Ly.

3.2. Quy định cách viết hoa tên địa danh

Quy định cách viết hoa địa danh cũng tồn tại nhiều cách khác nhau. Ví dụ như cách viết Sài Gòn, Sài-Gòn, Sài gòn… Vào năm 1984, theo Quyết định số 240/QĐ, thống nhất trên toàn quốc về chuẩn chính tả, về quy tắc viết hoa trong tiếng Việt do Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thị Bình ký như sau: Cách viết tên người, tên nơi chốn sẽ viết hoa chữ cái đầu là phụ âm/âm đầu không dùng gạch nối. Ví dụ như Quang Trung, Vũng Tàu, Hà Nội… Chuẩn chính tả này áp dụng trong tất cả các văn bản.

Nhưng thực tế, nhiều người vẫn băn khoăn viết miền Nam hay Miền Nam, Bắc Bộ hay Bắc bộ. Đặc biệt thêm tọa độ càng lúng túng hơn như miền cực Nam Trung Bộ hay Miền Cực Nam Trung Bộ hay miền cực nam Trung Bộ? Viết là sông Hồng hay Sông Hồng, Đồng Bằng Sông Cửu Long hay đồng bằng sông Cửu Long.

Thêm nữa viết hoa cấp bậc, tước vị, biệt hiệu hay chức vụ không cũng chưa có sự thống nhất chuẩn. Ví dụ như viết Xuân tóc đỏ hay Xuân Tóc Đỏ…

3.3. Quy định cách viết hoa tên riêng không phải tiếng Việt

Trường hợp viết tiếng nước ngoài du nhập, không phải tiếng Việt được quy định trong Quyết định 240/QĐ trong Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt có ghi:

* Nếu tên riêng dùng nguyên chữ của chữ cái Latin sẽ giữ đúng nguyên bản tất cả các chữ cái còn dấu phụ trong nguyên ngữ có thể lược đi. Ví dụ như tên Paris, Petofi, Shakespeare…

* Nếu tên riêng có nguyên ngữ thuộc hệ thống chữ cái khác tiếng Việt sẽ dùng lối chuyển từ sang chữ cái Latin. Ví dụ Moskva, Lomonosov

* Nếu tên riêng có nguyên ngữ không ghi từng âm bằng chữ cái sẽ dùng lối phiên âm chính thức của chữ cái Latin. Đó là cách phiên âm được dùng trên thế giới phổ biến. Ví dụ như Kyoto, Tokyo…

* Nếu tên riêng được sử dụng rộng rãi trên thế giới theo hệ thống chữ cái Latin khác với nguyên ngữ sẽ dùng tên riêng vẫn được mọi người dùng. Ví dụ như Bangkok có nguyên ngữ là Krung Thep hay Hungary có nguyên ngữ là Magyarorszag.

* Trường hợp tên viết sông núi sẽ dùng tên gọi phổ biến mà thế giới thường dùng vì sông núi rộng lớn có mặt ở nhiều quốc gia lãnh thổ. Đồng thời, những tên riêng theo từng địa phương vẫn có mặt ở những văn bản khác nhất định. Ví dụ như sông Danube/Duna/Donau/Dunares…

* Sẽ dùng lối dịch nghĩa phù hợp cho những tên riêng, bộ phận tên riêng có nghĩa. Ví dụ như Guinea xích đạo, Biển Đen.

* Tên riêng có phiên âm quen dùng trong tiếng Việt sẽ không cần thay đổi trừ trường hợp có yêu cầu đặc biệt. Ví dụ như Bắc Kinh, Pháp, Hy Lạp hay Lỗ Tấn… Có khác biệt như Ý hay Italia, Úc hay Australia. Có một số tên riêng sử dụng các cách viết, tên gọi khác như La Mã hay Roma…

* Trong ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tên riêng không phải tiếng Kinh cũng khó có sự thống nhất. Nhiều tên riêng được viết theo các kiểu khác nhau vẫn tồn tại như Moskva/Moscou/Moscow/Mát-xcơ-va/Matxcơva/Mạc Tư Khoa hay Shakespeare/Sếch-xpia/Xêchxpia.

* Trường hợp danh từ chung như mặt trời/quả đất theo quy định sẽ không viết hoa nhưng sách báo vẫn in Mặt trời/Quả đất. Nếu xét trên bình diện danh từ chung và danh từ riêng, trường hợp này rất dễ nhầm lẫm.

4. Quy định về quy tắc viết hoa trong tiếng Việt để biệt hóa tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể và sản phẩm

Những tên riêng của cơ quan, tổ chức, công ty, xí nghiệp, đoàn thể hay sở, ban, trường học, phòng và sản phẩm sẽ là những danh từ riêng hoặc chỉ chứa một vài danh tư riêng. Theo bản Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt với Quyết định 240/QĐ quy định:

4.1. Quy định về viết hoa tên riêng của các cơ quan, tổ chức

* Viết hoa chữ cái đầu/âm tiết đầu của từ đầu tiên trong tổ hợp từ dùng gọi tên riêng của tổ chức, cơ quan. Ví dụ Trường đại học ngoại ngữ Hà Nội, Trường đại học công nghiệp Hà Nội… Nhưng trong văn bản lại in rõ Bộ Giáo Dục. Từ “Bộ Giáo Dục” là ngược với quy định về quy tắc viết hoa trong tiếng Việt trong nội dung văn bản quyết định. Lẽ ra phải viết là Bộ giáo dục mới đúng quy chuẩn.

Trong khi đó, thực tế cũng không áp dụng nghiêm túc điều này vì những lý do: Nhiều khi tên gọi của các cơ quan, xí nghiệp, đoàn thể thường rất dài, bao gồm đầy đủ cấp độ của tổ chức, cơ quan đó trong hệ thống nào đấy. Ví dụ, Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất, thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu lương thực, thực phẩm…, Trường đại học công nghiệp, kỹ thuật Hưng Yên.

* Nhiều trường hợp, danh từ chung sử dụng làm danh từ riêng khi gọi tên sản phẩm hay cơ quan. Cách viết cũng tồn tại nhiều kiểu. Ví dụ như Tạp chí Tài Hoa Trẻ/Tài hoa trẻ, Báo Giáo dục và Thời đại/Giáo dục và Thời đại/Giáo Dục và Thời Đại. Nhưng người ta thường viết hoa tất cả các cụm từ như Thế Giới Mới, Khoa Học Phổ Thông, Nhân Dân… Theo đó, có người cho rằng tên các tác phẩm cũng phải viết hoa cả cụm từ như tiểu thuyết Gánh Hàng Hoa, tập truyện Anh Phải Sống hay bức tranh Thiếu Nữ Bên Hoa Huệ… Thậm chí có người cho rằng viết hoa tất cả như Xí Nghiệp Bóng Đèn-Phích Nước Rạng Đông Hà Nội.

4.2. Xu hướng viết hoa không theo âm tiết mà theo từ đối với tên gọi cơ quan, tổ chức

Xu hướng viết hoa tên gọi cơ quan, tổ chức hiện nay có nhiều cách khác nhau, chưa có thống nhất chung và sử dụng. Tuy nhiên, người ta thường viết hoa chữ cái đầu của từ đầu tiên và các từ của bộ phận tạo thành tên riêng như Bộ Thông tin, Tuyên truyền, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà hát Cải Lương Trần Hữu Trang, Hội sinh viên Việt Nam, Phòng Nghiên cứu khoa học. Nhưng có trường hợp viết Nhà hát Tuồng Đào Tấn lại dễ gây ngộ nhận nên cần viết là Nhà hát tuồng Đào Tấn nhưng không có nhiều.

Vì chưa có sự thống nhất nên những chuyên gia ngôn ngữ cho rằng cần chuẩn hóa chính tả tiếng Việt càng sớm càng tốt để có sự nhất trí cao dựa trên cơ sở khoa học áp dụng cho tiếng Việt. Để khắc phục tình trạng rối rắm trong cách viết hoa như hiện nay, chúng ta cần có những khảo sát và nghiên cứu triệt để.

Với những thông tin chia sẻ về quy tắc viết hoa trong tiếng Việt ở trên, bạn có thể tham khảo để thấy sự đa dạng của tiếng Việt và có thể linh hoạt sử dụng sao cho phù hợp, theo chính tả phổ biến với xu hướng mà mọi người dùng hiện nay cho tới khi có quy chuẩn chung nhất áp dụng trong tiếng Việt.

Quy Tắc Viết Chữ Kanji Trong Tiếng Nhật / 2023

1. Nét trên tới nét dưới, nét trái tới nét phải

Theo quy tắc chung, khi chúng ta viết chữ hán, những nét nằm ngang sẽ được viết từ trái sang phải còn những nét dọc sẽ được viết từ trên xuống dưới.

Ví dụ : Đối với chữ nhất[一] là một đường nằm ngang được viết từ trái qua phải. Chữ nhị[二] có 2 nét ngang cũng được viết ngang từ trái sang phải nhưng nét trên viết trước, nét dưới viết sau. Trong trường hợp này, cả 2 nét được viết từ trái qua phải nhưng nét nằm trên được viết trước. Chữ tam [三] có 3 nét, mỗi nét được viết từ trái qua phải, bắt đầu từ nét trên xuống nét dưới

Lưu ý : Quy tắc này cũng áp dụng cho trật tự các thành phần trong chữ kanji phức tạp hơn Ví dụ : Chữ[校] có thể được chia thành 2 phần : Phần bên trái [木] và phần bên phải [交]. Theo quy tắc chúng ta sẽ viết phần bên trái [木] trước và phần bên phải [交] sau. Tuy nhiên cũng có vài trường hợp ngoại lệ khi phần bền phải của một chữ có nét đóng nằm dưới

2. Các nét ngang viết trước, các nét dọc viết sau

Với các hán tự có nét ngang và nét dọc giao nhau thì chúng ta sẽ viết nét ngang đầu tiên rồi mới tới nét dọc

Ví dụ : Chữ thập(十) có 2 nét : ngang và dọc. Nét ngang [一] sẽ được viết đầu tiên, tiếp tục là nét sổ dọc để ra được chữ [十]

3. Các nét sổ thẳng và nét xuyên ngang được viết sau cùng

Các chữ kanji có một nét kéo từ trên xuống dưới đi qua các nét khác được gọi là nét sổ thẳng. Trong kanji, thì nét sổ thẳng sẽ được viết sau cùng. Ví dụ : Chữ sự[聿] có một nét sổ thẳng kéo dài từ trên xuống xuyên qua các nét khác được viết cuối cùng

Những chữ hán có nét xuyên qua các nét khác như chữ [毋] và chữ [舟] thì được gọi là nét xuyên ngang và nét xuyên ngang sẽ được viết sau cùng

4. Nét xiên trái (nét phẩy) viết trước các nét xiên phải (nét mác)

Tương tự quy tắc một chúng ta đã được biết thì phải viết từ trái rồi mới đến phải, thì đối với các nét xiên cũng vậy, phải viết xuyên trái trước rồi mới tới xuyên phải như trong chữ [文]

Lưu ý : quy tắc trên chỉ áp dụng cho các nét xiên đối xứng, còn đối với các nét xiên không đối xứng như trong chữ [戈], thì nét xiên phải có thể được viết trước nét xiên trái tùy theo theo quy tắc khác

5. Viết phần giữa trước đối với các chữ kanji đối xứng

Đối với các chữ hán đối xứng theo chiều dọc thì chúng ta ưu tiên viết nét giữa trước rồi sau đó đến các nét đối xứng cũng theo quy tắc bên trái viết trước, bên phải viết sau như trong chữ [兜], chữ [承] và chữ [水]

6. Phần bao quanh bên ngoài viết trước, phần bên trong viết sau

Với các chữ Hán có khung bao quanh khép kín hoặc không khép kín thì chúng ta sẽ theo quy tắc ngoài vào trong hay nói cách khác là viết nét ngoài trước rồi mới viết phần bên trong ví dụ trong chữ [日], chữ [口], chữ [同] và chữ [月]

7. Đối với phần bao quanh, viết nét sổ dọc bên trái trước

Trong phần bao quanh, những nét sổ dọc bên trái được viết trước rồi mới đến các nét bao quanh bên ngoài.

8. Đối với phần bao quanh, nét dưới đáy được viết sau cùng

Đối với những thành phần bao quanh nằm dưới đáy của chữ kanji thường được viết sau cùng ví dụ như trong các chữ sau : [道], [建] và [凶]

9. Các nét chấm nhỏ sẽ được viết sau cùng

Quy Tắc Cơ Bản Viết Chữ Kanji Trong Tiếng Nhật / 2023

1. Nét trên tới nét dưới, nét trái tới nét phải

Theo quy tắc chung, khi chúng ta viết chữ hán, những nét nằm ngang sẽ được viết từ trái sang phải còn những nét dọc sẽ được viết từ trên xuống dưới.

Ví dụ:

Đối với chữ nhất [一] là một đường nằm ngang được viết từ trái qua phải.

Chữ nhị [二] có 2 nét ngang cũng được viết ngang từ trái sang phải nhưng nét trên viết trước, nét dưới viết sau. Trong trường hợp này, cả 2 nét được viết từ trái qua phải nhưng nét nằm trên được viết trước.

Chữ tam [三] có 3 nét, mỗi nét được viết từ trái qua phải, bắt đầu từ nét trên xuống nét dưới

Quy tắc đầu tiên nét trên tới nét dưới, nét trái tới nét phải

Lưu ý: Quy tắc này cũng áp dụng cho trật tự các thành phần trong chữ kanji phức tạp hơn

Ví dụ:

Chữ [校] có thể được chia thành 2 phần : Phần bên trái [木] và phần bên phải [交]. Theo quy tắc chúng ta sẽ viết phần bên trái [木] trước và phần bên phải [交] sau. Tuy nhiên cũng có vài trường hợp ngoại lệ khi phần bền phải của một chữ có nét đóng nằm dưới

2. Các nét ngang viết trước, các nét dọc viết sau

Với các hán tự có nét ngang và nét dọc giao nhau thì chúng ta sẽ viết nét ngang đầu tiên rồi mới tới nét dọc

Ví dụ :

Chữ thập (十) có 2 nét : ngang và dọc. Nét ngang [一] sẽ được viết đầu tiên, tiếp tục là nét sổ dọc để ra được chữ [十]

3. Các nét sổ thẳng và nét xuyên ngang được viết sau cùng

Các chữ kanji có một nét kéo từ trên xuống dưới đi qua các nét khác được gọi là nét sổ thẳng. Trong kanji, thì nét sổ thẳng sẽ được viết sau cùng.

Ví dụ :

Chữ sự [聿] có một nét sổ thẳng kéo dài từ trên xuống xuyên qua các nét khác được viết cuối cùng

Những chữ hán có nét xuyên qua các nét khác như chữ [毋] và chữ [舟] thì được gọi là nét xuyên ngang và nét xuyên ngang sẽ được viết sau cùng

4. Nét xiên trái (nét phẩy) viết trước các nét xiên phải (nét mác)

Tương tự quy tắc một chúng ta đã được biết thì phải viết từ trái rồi mới đến phải, thì đối với các nét xiên cũng vậy, phải viết xuyên trái trước rồi mới tới xuyên phải như trong chữ [文]

Lưu ý : quy tắc trên chỉ áp dụng cho các nét xiên đối xứng, còn đối với các nét xiên không đối xứng như trong chữ [戈], thì nét xiên phải có thể được viết trước nét xiên trái tùy theo theo quy tắc khác

Nét xiên trái (nét phẩy) viết trước các nét xiên phải (nét mác)

5. Viết phần giữa trước đối với các chữ kanji đối xứng

Đối với các chữ hán đối xứng theo chiều dọc thì chúng ta ưu tiên viết nét giữa trước rồi sau đó đến các nét đối xứng cũng theo quy tắc bên trái viết trước, bên phải viết sau như trong chữ [兜], chữ [承] và chữ [水]

6. Phần bao quanh bên ngoài viết trước, phần bên trong viết sau

Với các chữ Hán có khung bao quanh khép kín hoặc không khép kín thì chúng ta sẽ theo quy tắc ngoài vào trong hay nói cách khác là viết nét ngoài trước rồi mới viết phần bên trong ví dụ trong chữ [日], chữ [口], chữ [同] và chữ [月]

7. Đối với phần bao quanh, viết nét sổ dọc bên trái trước

Trong phần bao quanh, những nét sổ dọc bên trái được viết trước rồi mới đến các nét bao quanh bên ngoài.

8. Đối với phần bao quanh, nét dưới đáy được viết sau cùng

Đối với những thành phần bao quanh nằm dưới đáy của chữ kanji thường được viết sau cùng ví dụ như trong các chữ sau : [道], [建] và [凶]

9. Các nét chấm nhỏ sẽ được viết sau cùng

Những nét chấm nhỏ thường được viết sau cùng ví dụ như trong các hán tự sau đây: [玉], [求] và [朮]

Cập nhật thông tin chi tiết về Quy Tắc Đặt Dấu Thanh Trong Tiếng Việt / 2023 trên website Ezlearning.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!