Cách Viết Chữ Hạ Trong Tiếng Hán / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Ezlearning.edu.vn

Chữ Lộc Trong Tiếng Hán

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Tranh Chữ Lộc Trong Phong Thủy
  • Cách Nhớ Chữ Trong Tiếng Hán (Phần 1)
  • Viết Chữ Phúc Bằng Tiếng Hán
  • Chữ Phúc Mãn Đường Có Ý Nghĩa Gì Theo Phong Thủy
  • Chữ Phúc Mãn Đường Có Ý Nghĩa Gì Trong Phong Thủy?
  • Tìm hiểu về ý nghĩa chữ lộc trong tiếng Hán, học chữ lộc tiếng Hán như thế nào. Cách viết chữ lộc trong tiếng Trung đẹp.

    “Lộc” là một trong ba chữ trong câu chúc tết của người Việt đó là “Phúc-Lộc-Thọ”. Vậy chữ lộc trong tiếng Hán có ý nghĩa như thế nào mà ai cũng mong muốn thật nhiều. Cùng tiếng Trung THANHMAIHSK tìm hiểu về chữ lộc để mọi người cùng sáng tỏ.

    1. Ý nghĩa chữ Lộc trong quan điểm người Trung Hoa

    Chữ LỘC trong văn hóa xưa thường nhắc người ta nhớ tới cảnh vinh quy bái tổ. Tôi nhớ ai đó ở Bến Tre kể về vị tiến sỹ đầu tiên ở đất Nam Kỳ về Ba Tri… Ngài đã đi bộ từ ngoài lộ qua bưng, qua vườn đến nhà tranh trong vườn để lạy thầy giáo của mình rồi sau đó mới về lạy cha, lạy mẹ… Sắp có bổng lộc triều đình, Phan Thanh Giản đã làm ta phải nể kính một nhân cách lồng lộng…

    Thời xưa, Lộc tức là bổng lộc mà các Quan được nhận. Có thứ Lộc của Vua ban, có thứ Lộc của dân biếu. Vua ban để ghi nhận công lao của các Quan đã chí công vô tư, thay Vua cai quản, chăn dắt đám dân chúng dưới quyền! Còn dân kính biếu Quan, để bày tỏ lòng biết ơn về một công việc gì đó, quan đã vì quyền lợi chính đáng của dân, mà làm. Như vậy hoàn toàn có thể nói Lộc chính là sự ghi nhận công lao các Quan: công lao với dân và công lao với Vua, với nước. Lộc là thành quả, sự đền đáp xứng đáng của công lao.

    Lộc biểu tượng cho một trong những hạnh phúc lớn nhất của đời người đó là tài tộc dồi dào. Lộc còn bao hàm ý nghĩa may mắn, phúc tốt lành. Mỗi độ Tết đến, cùng với chữ Phúc, Thọ, người Việt Nam thường treo bộ tranh ba chữ Phúc – Lộc – Thọ để cầu mong tài lộc đến với mỗi người. Người dân còn có tục lệ đi hái lộc vào những ngày đầu năm mới. Người ta hái những lộc non về như đem tài lộc, may mắn về với gia đình trong suốt năm.

    Tài Lộc cũng như chồi lộc non mùa xuân. Mùa xuân chồi lộc đua nhau xanh mơn mởn. Lộc non là thành quả của những ngày đông rét mướt trong kén lá. Lộc non tô điểm cành đào ngày Tết. Người Việt Nam chuộng những cành đào có cả lộc non xanh mơn mởn và hoa đào tươi hồng. Giống như, bên cạnh sức khỏe và hạnh phúc, người người đều mong muốn tài lộc để đủ đầy thêm hạnh phúc của mình. Lộc như chồi non, làm mơn mởn cuộc sống sung túc của mỗi người.

    2. Tại sao các thánh hiền lại không coi trọng chữ lộc

    Những vở tuồng cổ kể về những câu chuyện đậu đạt, có quan Lộc thường theo một motip 3 chặng:

    Nhân vật mang mặt nạ trắng, mặc áo đỏ, đi 3 vòng quanh sân khấu. Anh ta chỉ cười mà không nói.

    Anh ta bồng một đứa bé rất kháu khỉnh, rồi lại lượn 3 vòng trên sân khấu.

    Anh ta ra sân khấu với tiền hô hậu ủng, mang theo 4 chữ GIA QUAN TIẾN LỘC nghĩa là “Thăng quan tiến Lộc”…

    Bây giờ nói về cá Chép. Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa ở sông Hoàng Hà, con sông nuớc chảy rất dữ dội có đàn cá Chép bơi ngược dòng đến để nhảy qua Vũ Môn. Con nào vượt được dù lành lặn hay “trầy vi tróc vảy”, mang miệng dù bị chảy máu vẫn được hóa Rồng.

    Đời Tống khi nói LÝ NGƯ KHIÊU LONG MÔN là chỉ những người đã trót lọt những khoa thi Hương, thi Hội, thi Đình như cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến sau này. Họ sẽ ra làm quan. Mà “một người làm quan cả họ được nhờ”.

    Có một chữ LỘC tiếng Hán đồng âm với “Lộc” mà chúng ta đang bàn này có nghĩa là con cá Chép (người Việt đọc là Lý chứ không đọc Lộc). Đây là lý do tranh Tết treo cá Chép nuốt Trăng. Tại sao đêm trăng trung thu lại rước đèn Cá Chép… Đó là ước mơ vượt Vũ Môn, hóa Rồng, có quyền lực. Quả thật muốn làm quan to, quyền cao chức trọng thì phải đoạt Giải Nguyên. Chữ GIẢI lại là con cua. Mua Cua cho nó cắn mấy trò lười học nhất định có ngày giải nguyên.

    Chữ LỘC là danh lợi cho nên bàn về nó thật rắc rối “Quyền LỘC cũng lắm công phu”. Từ con Hươu tìm linh chi đang mọc sừng, mọc lộc, đang chạy nặng nề với cùng ông Phán Mọc Sừng bỗng dưng nhảy ùm xuống sông Hoàng Hà làm trọng tài ném những con Chép vượt Vũ Môn.

    Muốn được LỘC nhiều thì làm quan to. Công, Hầu, Bá, Tư, Nam… Làm Công như Trần Hưng Đạo Quốc Công tiết chế thì có mà mơ. Làm Nam tước, Tử tước thì đi đâu cũng đã có “tiền hô hậu ủng” rồi. Cũng không hiểu sao, nhân vật Từ Hải ở truyện Kiều trong con mắt triều đình là giặc cỏ nhưng khi lập ra một bờ cõi “rạch đôi sơn hà” thì cụ Nguyễn lại gọi là TỪ CÔNG:

    “Từ Công nghe nói thủy chung”

    Hoặc :

    “Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi”.

    Cho hay, cái nhìn của Nguyễn Du, cách dùng từ của cụ quả là động chạm tới nhãn quan của vua chúa. Chẳng trách mà Tự Đức muốn đánh Cụ 300 roi! Chỉ cần được ban cho Hầu Tước là vị quan ấy đã được Phong cho hàng ngàn mẫu đất để Kiến tạo cơ đồ. Hóa ra PHONG KIẾN chính là chế độ cho chữ Lộc được nói tới nhiều nhất.

    Có một chư “̃Hầu” đồng âm là “con Khỉ”. Vì thế ẤN PHONG HẦU là ấn phong cho con khỉ. Các bạn chú ý bức tranh con khỉ đang bất chấp ngã dập mặt đưa tay giành ấn. Chữ LỘC có biểu tượng là con Khỉ. Ai nói giành Lộc với thiên hạ lại không nguy hiểm? Khi vào triều thì phải HANH THÔNG QUAN LỘ. Vì thế mà ta gặp nghịch cảnh làm trò thật hài hước: con Khỉ ngồi trên lưng ngựa như chiến tướng xưa định uống rượu ngon nhưng nghe tiếng đàn tỳ bà giục lên yên cương sống mái chốn sa trường, vi vu ra chiến địa.

    Chữ LỘC còn dính tới cụm từ: “Quan thượng gia quan”. Mào gà trống trong tiếng Tàu là “Quan”. Do đó, khi vẽ con gà trống đứng oai vệ bên những bông Mồng Gà thì ta biết đó là lời chúc thăng quan tiến chức thật nhanh. Chữ “Quan” ở sau là “mũ nón”. Thay kiểu mũ tức là thay chức tước nên cụm từ trên được dịch là: “Lên quan, gia tăng chức tước”. Cũng nói thêm, con gà là linh vật đuổi tà. Đấy, để lấy bổng LỘC quyền lực phải đấu với người, đấu với ma quỷ, phải mang tội sát sinh không biết bao nhiêu gà qué tiêu đời, không biết làm lợi cho bao nhiêu lão thầy bói đưa chân gà về treo giàn bếp hong khói để “quét nhà ra rác”.

    Hết động vật, người ta tìm Lộc trong hoa lá. Hoa Mẫu Đơn gọi là hoa phú quý. Cho nên người cầu lộc không thể thiếu hoa này. Nghe nói đây là loài hoa làm cho Từ Hy Thái hậu mê tới phát cuồng… Bộ 3 Mẫu Đơn, Ngọc Lan, Hải Đường gọi là: NGỌC ĐƯỜNG PHÚ QUÝ. Nghĩa là: “giàu sang điện ngọc”. Khi kết hợp bộ tứ: Sen, Cúc, Mận, Mẫu Đơn thì gọi là: TỨ QUÝ BÌNH AN. Nghĩa là “bình an bốn mùa”.

    Vật lộn với chữ Lộc là đặt mình trong tình thế mong manh giữa chính và tà, giữa tốt và xấu. Quyền lực càng tuyệt đối, tha hóa càng tuyệt đối. Lòng tham con người là vô đáy… Cái Lợi cái LỘC cho người ta tăng trưởng cái phần “con” của con người tha hóa. Đặc biệt là con người hôm nay không kính Trời, kính Phật, chỉ biết lợi. Họ dùng tiền bạc để có “chức vị”. Sau đó dùng chức vị để có tiền bạc, hưởng thụ…

    Người xưa có 2 chữ “Lộc Đố” nghĩa là làm sâu làm mọt, đục khoét dân mà có Lộc (Đố là con mọt gỗ). Chắc gương Hòa Thân giàu có hơn cả triều đình nhà Thanh bị tử hình là một bằng chứng. Đổng Trác bị treo thây ngoài chợ, Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai mổ sống người để bán nội tạng làm giàu đang chờ “Hiện thế hiện báo”…

    Cần nhắc lại nàng Kiều khi làm phu nhân, làm vợ Từ Hải đã bị cái bả quyền lực này làm tha hóa nhân cách. Chữ LỘC biến người ta theo chủ nghĩa cơ hội, thành hợm hĩnh, thành người tự dối chính mình. Đây là tính toán của một người cơ hội:

    Sao bằng LỘC trọng QUYỀN cao,

    CÔNG DANH ai dứt lối nào cho qua…

    Với chừng ấy câu chữ nhàn đàm về chữ Lộc, chúng ta đã có thể phát hiện ra ý nghĩa ẩn dụ thú vị ở những hình ảnh, những hình tượng trong hội họa, trong kiến trúc xưa. Hình ảnh quen thuộc là chú Hươu, con Cá Chép. Nhưng chữ Lộc không đơn giản là như vậy. Danh, Lợi, Tình vốn gắn với thế giới Mê của con người, là đặc sản của nhân loại. Con người vì ba chữ này mà sống. Do đó chữ Lộc cũng thật nhiêu khê, rắc rối…

    Nhưng đó là những người có sự am hiểu sâu rộng về sách Thánh Hiền còn chúng ta ai cũng mong muốn rằng trong năm mới, gia đình sẽ có thật nhiều tài lộc, phát tài, gia đình thịnh vượng. Và đó cũng là lời chúc chúng ta thường dành cho nhau mỗi dịp năm mới.

    Ngôn ngữ chính là một trong những cây cầu giúp chúng ta tìm hiểu lịch sử và văn hóa Trung Quốc, còn rất nhiều điều thú vị về nơi đây để chúng ta khám phá và cũng là động lực để chúng ta thêm hứng thú với mỗi bài học tiếng Trung được giảng dạy tại trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Chữ Nhẫn Trong Tiếng Hán Và Cuộc Sống Người Việt
  • Ý Nghĩa Chữ Lộc Trong Tiếng Hán Cổ Xưa
  • Ý Nghĩa Chữ Đức Tiếng Hán
  • Chữ Lộc Tiếng Hán
  • Chữ Đức Và Những Ý Nghĩa Trong Từng Nét Bút
  • Chữ Hán Trong Tiếng Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Học Bảng Chữ Cái Tiếng Trung Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Nên Chọn Những Loại Bút Nào Để Luyện Viết Chữ Hán Đẹp?
  • Cách Học Kanji Theo Bộ
  • Tổng Hợp Các Câu Đối Chữ Hán Hay Trên Bia Mộ Đá Và Lăng Mộ Đá Hiện Nay Mẫu Lăng Mộ Đá Đẹp, Mẫu Mộ Đá Đẹp, Mộ Đá Đẹp Ninh Bình
  • Chữ Nghĩa Trong Bia Mộ Ở Xứ Quảng
  • Số 5 trong chữ Hán là Wu.

    The mandarin word for five ” is wu.

    OpenSubtitles2018.v3

    (Chữ Hán phồn thể). ^ FAR EAST (FORMOSA AND THE PESCADORES).

    Far East (Formosa and the Pescadores)”.

    WikiMatrix

    Thái liên khúc: gồm 2 bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán.

    Erlangen: Double Ugly Books.

    WikiMatrix

    Bản đồ Eckert IV năm 1906 có hình dạng giống bản đồ chữ Hán.

    The 1906 Eckert IV map resembles the display of this Chinese map.

    WikiMatrix

    Nguyên bản của tác phẩm có khoảng 8 tập, viết bằng chữ Hán.

    Part 1 has eight pictures of things, with the English word under them.

    WikiMatrix

    Ví dụ, “mười triệu” kết hợp chữ thuần Việt “mười” và chữ Hán Việt “triệu”.

    For instance, “mười triệu” combines native “mười” and Sino-Vietnamese “triệu”.

    WikiMatrix

    Trong lịch sử, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam đều sử dụng chữ Hán.

    Historically, Japan, Korea, and Vietnam have used Chinese characters.

    WikiMatrix

    Có tổng cộng 1.946 chữ Hán hiện được liệt kê trong danh sách.

    The full list in this section should contain 1346 entries.

    WikiMatrix

    (Chữ Hán phồn thể). ^ a ă â About Us.

    Thank you. ~~~~ About Us.

    WikiMatrix

    Tất Liệt khăng khăng đòi đổi một cái tên chữ Hán.

    Kublai insisted on a Chinese name.

    OpenSubtitles2018.v3

    Năm 1978, kết quả phân tích X quang cho thấy một dòng chữ khảm vàng bao gồm ít nhất 115 chữ Hán.

    In 1978, X-ray analysis revealed a gold-inlaid inscription that comprises at least 115 Chinese characters.

    WikiMatrix

    Hầu hết tên người Triều Tiên bao gồm hai chữ Hán-Triều và có thể được viết bằng chữ hanja.

    Most Korean given names consist of two Sino-Korean morphemes each written with one hanja.

    WikiMatrix

    Khi viết chữ Hán nên cẩn thận mấy cái chấm và nét quét, viết nhanh và cẩn thận nhất có thể.

    When drawing kanji be careful of dots and sweeps, write as carefully and quickly as possible.

    tatoeba

    Công ty đã thông qua tên tiếng Anh “Spring Airlines”, các chữ Hán có nghĩa đen là “Hàng không Xuân Thu”.

    While the company adopted the English name “Spring Airlines”, the Chinese name literally means “Spring Autumn Airlines.”

    WikiMatrix

    Phương ngữ này không có hệ thống chữ viết riêng tại Trung Quốc và người Hách Triết thường viết bằng chữ Hán.

    The dialect does not have a written system in China and Nanai usually write in Chinese.

    WikiMatrix

    Chữ Hán giản thế chủ yếu được sử dụng ở Trung Quốc đại lục, Singapore và Malaysia trong các ấn bản chính thức.

    In contrast, Simplified Chinese characters are used in mainland China, Singapore and Malaysia in official publications.

    WikiMatrix

    The complete proposal contained a list of 248 characters that were to be simplified, as well as another list of 605 characters for evaluation and discussion.

    WikiMatrix

    Những mẫu tự kanji này giống với chữ Hán, nhưng có nguồn gốc từ Nhật Bản và không có phát âm trong tiếng Trung Quốc.

    These kanji resemble Chinese characters but originate in Japan and do not have widely-known Chinese pronunciations.

    WikiMatrix

    Các nhà khảo cổ học cho rằng một số biểu tượng (trên 1.500) mang một số điểm tương đồng với các ký tự tượng hình cổ của chữ Hán.

    Archaeologists believe that some of these symbols (over 1,500) bear a resemblance to ancient hieroglyphs of Chinese characters.

    WikiMatrix

    Tên tiếng Nhật thường được viết bằng kanji (chữ Hán), mặc dù một số tên sử dụng hiragana và thậm chí là katakana, hoặc hỗn hợp của kanji và kana.

    Japanese names are usually written in kanji (Chinese characters), although some names use hiragana or even katakana, or a mixture of kanji and kana.

    WikiMatrix

    Mười bốn thiên đầu liệt kê các chữ Hán; thiên thứ 15 và cũng là thiên cuối cùng được chia thành hai phần: a postface and an index of section headers.

    The first 14 chapters are character entries; the 15th and final chapter is pided into two parts: a postface and an index of section headers.

    WikiMatrix

    Ấn bản đầu tiên của Đại Hán-Hòa Từ điển (1955-1960) bao gồm 13 tập với tổng cộng 13.757 trang, 49.964 mục từ chữ Hán và hơn 37 vạn từ và cụm từ, thành ngữ.

    The original (1955–1960) Dai Kan-Wa Jiten has 13 volumes totaling 13,757 pages, and includes 49,964 head entries for characters, with over 370,000 words and phrases.

    WikiMatrix

    The index, which is arranged by number of strokes, can be inconvenient (e.g., 2189 characters are listed under 9 strokes).

    WikiMatrix

    Shirane Haruo (2003:15) đánh giá về Đại Hán Hoà Từ điển rằng: “Đây là một từ điển chữ Hán hoàn hảo và là một trong những từ điển vĩ đại của thế giới.”

    Haruo Shirane (2003:15) says: “This is the definitive dictionary of the Chinese characters and one of the great dictionaries of the world.”

    WikiMatrix

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nhớ Chữ Hán Nhanh Và Dễ Dàng Hơn 50% So Với Học Thông Thường
  • 毛 筆 書 法 ; Science, Khoa Hoc, Khoahoc, Tin Hoc, Informatique;computer; Vat Ly; Physics, Physique, Chimie, Chemistry, Hoa Hoc, Sinh Vat, Biologie, Biology;biochimie;
  • Cài Đặt Bộ Gõ Tiếng Trung Cho Máy Tính
  • Top 2 Cách Gõ Tiếng Trung Trên Máy Tính Phổ Biến Nhất Hiện Nay
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Gõ Tiếng Trung Trên Điện Thoại Android Và Ios
  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán: Ý Nghĩa, Cách Viết

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Viết Tiếng Nhật Trên Máy Tính
  • Cách Viết Tiếng Trung Quốc (Chữ Hán) Cơ Bản Với Chinese
  • Tập Viết Chữ Hán: 8 Quy Tắc Viết Chữ Trung Quốc Bắt Buộc Phải Nhớ
  • Hướng Dẫn Viết Chữ Trên Bia Mộ, Lăng Mộ.
  • Cách Viết Chữ Bia Mộ, Lăng Mộ Theo Phong Thủy.
  • Tìm hiểu về ý nghĩa chữ phúc trong tiếng Hán. Học cách viết chữ phúc tiếng Hán đẹp nhất. Trả lời câu hỏi tại sao người ta treo chữ phúc ngược trong nhà.

    1. Các ý nghĩa của chữ phúc trong tiếng Trung

    Chữ Phúc tiêu biểu cho may mắn sung sướng, thường dùng trong từ ngữ hạnh phúc. Người Á Đông, từ lâu đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ phúc, mà ngày nay người ta còn thấy trong nhiều vật trang trí, trong kiến trúc, và cả trên y phục.

    Chữ phúc gồm bộ thị đi liền ký tự phúc. Bộ thị vốn là hình vẽ cái bàn thờ. Ký tự phúc – mà người đời sau chiết thành nhất khẩu điền – vốn là hình vẽ một vò rượu. Nghĩa là sao? Cầu cho trong nhà được bình rượu luôn đầy. Thế là đầy đủ, dồi dào và hoàn bị. Ý nghĩa của chữ phúc thoạt kỳ thủy tương tự chữ phú 富, ngày nay được hiểu là giàu.

    Chữ phúc lần hồi được hiểu là “điều tốt lành” hoặc “việc may mắn” . Do đó, nhiều kết hợp từ có yếu tố phúc nhằm chỉ sự vui vẻ, no ấm, an lành: phúc đức, phúc ấm, phúc tinh, phúc hạnh, hạnh phúc, hồng phúc, diễm phúc, v.v.

    Lưu ý rằng trong từ Hán – Việt còn mấy chữ phúc đồng âm dị nghĩa:

    • Phúc 輹 có nghĩa thanh gỗ ngang dưới xe dùng nắt liền trục xe với thân bánh xe;
    • Phúc 輻 / 辐 có nghĩa nan hoa bánh xe;
    • Phúc 蝮 có nghĩa rắn độc (như phúc xà là rắn hổ mang);
    • Phúc 腹 có nghĩa là bụng (như tâm phúc, phúc mạc, v.v.);
    • Phúc 覆 /复 có nghĩa lật lại, xem xét lại kỹ càng (như phúc khảo, phúc hạch, v.v..);
    • Phúc 蝮 có nghĩa là chiều ngang, khổ, viền mép vải, bức (như nhất phúc hoạ là một bức tranh); phúc có nghĩa là con dơi.

    Chữ phúc chỉ con dơi được viết khác: không phải bộ thị mà là bộ trùng (tức côn trùng, rắn rết, v.v.) đi kèm. Gọi cho đầy đủ theo tiếng Hán, con dơi là biên phúc 蝙蝠.

    Tuy nhiên : cả hai chữ phúc đều được phát âm là phú. Do đó, họ lấy hình ảnh con dơi tượng trưng cho điều tốt lành, may mắn.

    2. Tại sao ngày Tết người ta treo chữ phúc lộn ngược

    Nhiều người khi đến nhà ai đó chơi nhìn thấy chữ phúc treo lộn người thì chê gia chủ không biết tiếng mà còn đòi chơi chữ. Nhưng thực chất đó mới là người chưa hiểu được ý nghĩa sâu xa của việc treo đó.

    Thực chất, đây là một phong tục độc đáo và có nhiều cách giải thích khác nhau, ví như điển tích “thợ mộc Thái Sơn” chẳng hạn. Trên phương diện ngôn ngữ, đây lại là lối “chơi chữ” đặc sắc dựa theo tính chất đồng âm.

    Chữ phúc tiếng Hán lộn ngược gọi là gì ? Phúc đảo. Tiếng Bắc Kinh đọc là phú dào, y hệt như… phúc đáo, nghĩa là “điều tốt, vận may đến”. Đầu năm đầu tháng (hoặc làm lễ khai trương cửa hiệu, ăn mừng tân gia, v.v.), hỏi ai chẳng mong “bồng ông Phúc vào nhà” như vế đối Nguyễn Công Trứ từng nêu ?

    3. Chữ phúc biến hoá thành phước

    Phúc và phước là từ đồng nghĩa dị âm. Chính âm là phúc. Biến âm thành phước. Vấn đề đặt ra: sự biến âm ấy diễn ra từ bao giờ? Vì sao? Đâu là giới hạn?

    Mọi người đều biết rằng hiện tượng “viết chệch, đọc lệch” từng xuất hiện trong lịch sử do kiêng húy. Chữ phúc bị kiêng, thoạt tiên từ thời Tây Sơn. Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng (1797 – 1864) có đoạn: “Xã tôi xưa gọi là Long Phúc, vì Nguyễn Huệ có tên giả là Phúc, nên đổi gọi là Long Phú”.

    Vậy là Phúc biến thành Phú, tức thay hẳn cả chữ lẫn nghĩa. Còn Phúc biến thành Phước thì giữ nguyên chữ nghĩa, chỉ đổi âm, thực sự phổ biến kể từ năm Quý Mùi 1883 – thời điểm công tử Ưng Đăng lên ngôi vua, chọn niên hiệu Kiến Phúc.

    Dù đây không phải là trọng húy được triều đình chuẩn định ban bố, song từ hoàng thân quốc thích đến quan quân lẫn thứ dân thảy đều gọi kiêng. Dòng họ Nguyễn Phúc được đọc trại ra Nguyễn Phước. Theo đó, Phúc – Lộc – Thọ biến thành Phước – Lộc – Thọ; may phúc thành may phước; phúc đức thành phước đức; diễm phúc thành diễm phước, v.v.

    Tuy nhiên, do không phải trọng húy mà chỉ là khinh huý, nên sự biến âm đã diễn ra chẳng triệt để. Vì thế cần lưu ý rằng trong Việt ngữ, chẳng phải bất kỳ trường hợp nào phước đều có thể thay thế hoàn toàn cho phúc. Ví dụ: hạnh phúc, phúc đáp, phúc âm, v.v.

    Tương tự trường hợp hoa đổi thành bông (do kiêng húy danh Tá Thiên Nhơn hoàng hậu Hồ Thị Hoa), nhiều khi phúc biến ra phước lại mang màu sắc có vẻ “thuần Việt” hơn. So sánh ân phúc với ơn phước ắt rõ điều này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chữ Tâm Trong Tiếng Hán: Cách Viết Và Ý Nghĩa Của Chữ Tâm
  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán
  • Cách Nhớ Chữ Hán Dễ Dàng
  • Đánh Chữ Hán Trên Vi Tính
  • Cách Viết Chữ Trên Facebook Messenger Kiểu In Đậm, In Nghiêng
  • Chữ Thọ Trong Tiếng Hán: Ý Nghĩa, Cách Viết Cách Điệu

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữ Dương, Có 9 Chữ Dương
  • Ý Nghĩa Chữ Trung Quốc Nhẫn, Phúc, Lộc, Thọ, Đức, An, Tâm…
  • Chữ Đức Và Những Ý Nghĩa Trong Từng Nét Bút
  • Chữ Lộc Tiếng Hán
  • Ý Nghĩa Chữ Đức Tiếng Hán
  • Chữ thọ trong tiếng Hán có ý nghĩa gì? Người Trung coi trọng chữ thọ ra sao? Học cách viết chữ thọ trong tiếng Hán như thế nào?

    1. Ý nghĩa chữ thọ trong tiếng Trung

    Sống thọ để hưởng phúc lộc vẫn là ước muốn muôn thuở muôn phương của nhân loại.

    Chữ Thọ theo chữ Hán xếp vào bộ sĩ gồm có 5 chữ cấu thành:

    Chữ sĩ xếp trên đầu chữ Thọ. Sĩ nghĩa đen là học trò, học rộng là sự hiểu biết, là tư duy. Như vậy điều đầu tiên muốn sống lâu thì bộ óc luôn luôn phải suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo.

    Người Pháp có câu tục ngữ “Tôi suy nghĩ, là tôi tồn tại”. Như vậy thường xuyên suy nghĩ sáng tạo là giúp ta sống lâu. Ngày nay, đã có quan điểm xây dựng một xã hội học tập và học tập suốt đời. Ở ta các cụ làm công tác nghiên cứu khoa học vào tuổi trên 70 vẫn còn học sử dụng thành thạo vi tính. Người ta thường nói những suy nghĩ sâu sắc nhất thường chỉ có ở tuổi già. Những điều nêu trong di chúc của Hồ Chủ tịch, những tiên đoán của các học giả tiền bối nổi tiếng đều chứng minh cho luận điểm này.

    Chữ cấu thành thứ 2 của chữ Thọ là chữ Nhị, nghĩa đen là hai. Nghĩa rộng ra là quan hệ giao lưu qua lại. Người già muốn sống lâu phải thường xuyên giao tiếp tìm đối tác, trao đổi từng lĩnh vực của đời sống như văn hóa, chính trị, khoa học, kinh tế xã hội. Việc giao tiếp này cũng có nghĩa là nâng cao năng lực tư duy, giải tỏa những mắc mớ làm cho đầu óc thanh thản.

    Trong phương châm sống của người Trung Hoa, người già cần có vợ chồng chung thuỷ; có bạn bè tri kỉ để trao đổi tâm tình. Có nhiều cụ sống trên 80 tuổi, bạn bè càng ngày ít vì các cụ đã dần dần ra đi. Do đó, cần tăng cường giao lưu để có nhiều bạn mới, có cơ hội gặp nhau thường xuyên, sống vui vẻ là ít bệnh tật hơn.

    Chữ thứ 3 của chữ Thọ là chữ Công, nghĩa là vận động. Người già muốn sống lâu cần vận động theo sức lực của mình; trong vận động đáng chú ý nhất là đi bộ. Tuy nhiên đối với người đau khớp gối, khớp háng lại nên chỉ đi bộ vừa phải.

    Chữ thứ 4 là chữ Thọ là chữ Khẩu, nghĩa là miệng. Trong các chữ Hán có nghĩa phát ra lời nói, phần lớn có chữ Khẩu hoặc chữ Ngôn (nói). Chữ Khẩu trong chữ Thọ có nghĩa trừu tượng hơn. Những người miệng độc ác thì sẽ không thể thọ được. Luôn nói lời hay ý đẹp sẽ được mọi người yêu mến, sống vui vẻ và thọ lâu.

    Mơ ước sống thọ của con người còn được biểu hiện qua hình ảnh Thọ tinh. Là một vị tinh quân (thần sao) mà người Việt quen gọi là ông Thọ. Một hãng sữa hộp ở Việt Nam đã khôn khéo lấy hình ảnh Thọ tinh in lên nhãn, ngụ ý tạo ra ấn tượng uống sữa Ông Thọ thì bổ dưỡng, sống lâu.

    Thọ tinh là một trong bộ ba vị tinh quân (Tam tinh) là Phúc, Lộc, Thọ.

    Thọ tinh trong tranh vẽ là ông lão cao ráo, mảnh khảnh, đôi chân mày bạc, râu dài bạc phơ, đầu hói và dài, miệng cười hiền hòa, có thể kèm thêm một chú bé con (đồng tử, tiểu đồng) theo hầu.

    Một tay Thọ tinh cầm gậy, sần sùi những mắt gỗ. Có lẽ làm từ rễ cây của một cổ thụ đã sống rất nhiều năm; tay kia Thọ tinh cầm quả đào. Có khi Thọ tinh chỉ cầm một trong hai món này.

    Trái đào tượng trưng cho sự trường sinh bất tử. Liên hệ tới truyền thuyết về quả bàn đào ở vườn đào tiên của Tây vương mẫu. Cứ ba ngàn năm mới trổ bông, ba ngàn năm mới kết trái, ba ngàn năm mới chín, ăn được quả bàn đào thì trường sinh bất tử.

    Truyện Tây du của Ngô Thừa Ân đã kể rất ly kỳ chuyện Tôn Ngộ Không quậy phá tưng bừng làm tan hoang Hội yến Bàn đào của Tây vương mẫu.

    Nhiều gia đình tổ chức lễ thượng thọ cho cha mẹ, ông bà vì thế còn đặt làm loại oản bột nặn hình quả đào, nhuộm phẩm màu phơn phớt hồng, ra ý hiến đào là dâng thêm tuổi thọ cho người thân.

    Có khi vẽ Thọ tinh sinh ra từ quả đào, do hai tiểu đồng khiêng đi.

    Vì trái đào là biểu tượng cho trường sinh cho nên có khi người ta vẽ ba trái đào nằm giữa năm con dơi; với ý nghĩa mong ước hay cầu chúc trường sinh bất tử và hưởng được ngũ phúc. Số ba và số năm là số dương (mà dương là tốt đẹp, đối lập với âm là xấu). Số ba cũng do ảnh hưởng của Đạo đức kinh: “Một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật.” . Vậy thì số ba hàm nghĩa sinh sinh hóa hóa, sinh sôi nảy nở, là sức sống bất diệt.

    Đôi khi tranh vẽ Thọ tinh cỡi trên lưng hay đứng bên cạnh một con hươu sao hoặc con nai. Hươu hay nai chữ Hán gọi là lộc, đọc cùng âm với chữ thọ, thụ theo nghĩa thọ nhận, nhận được.

    2. Cách viết chữ thọ bằng tiếng Hán

    Chữ thọ bằng tiếng Hán cách điệu thành hình tròn còn được kết hợp với một vòng tròn bao quanh gồm năm con dơi và năm chữ vạn (swastika) xen kẽ nhau.

    Con dơi chữ Hán gọi là bức, đọc cùng âm [fú] với chữ phúc, phước theo nghĩa may mắn, phúc lành. Năm con dơi tức là ngũ phúc, gồm có: (1) Thọ, là sống lâu; (2) Phú, là giàu có; (3) Khang ninh, là bình an; (4) Du hiếu đức, là có lòng ưa thích đạo đức; (5) Khảo chung mệnh, sống lâu cho tới hết đời.

    Chữ vạn là biểu tượng cho sự tốt lành (cát tường). Nhưng vạn còn đồng âm với chữ vạn (10.000) với nghĩa là vô số.

    Như vậy, đặt chữ thọ trong vòng năm con dơi và năm chữ vạn hàm nghĩa ao ước hay cầu chúc được hưởng ngũ phúc và vạn thọ (sống lâu muôn tuổi).

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Chữ Hán Cơ Bản Trong Tiếng Trung Quốc Cần Học ⋆ Trung Tâm Đào Tạo Tiếng Trung Chinese
  • Combo Sách Hay: Tập Viết Chữ Hán Cho Người Mới Bắt Đầu + Tự Học Tiếng Trung Dành Cho Người Việt
  • Giải Thích Một Số Từ Ngữ Thường Dùng Trong Gia Phả, Bia Mộ …
  • Cách Ghi Chữ Trên Bia Mộ Đá Chuẩn Văn Hóa
  • Cách Viết Chữ Bia Mộ, Lăng Mộ Theo Phong Thủy.
  • Cách Nhớ Chữ Trong Tiếng Hán (Phần 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Chữ Phúc Bằng Tiếng Hán
  • Chữ Phúc Mãn Đường Có Ý Nghĩa Gì Theo Phong Thủy
  • Chữ Phúc Mãn Đường Có Ý Nghĩa Gì Trong Phong Thủy?
  • Cách Nhớ Hán Tự Trong Tiếng Nhật
  • Xưng Hô Theo Lối Hán Việt Cổ Ngữ
  • Người phụ nữ ở dưới trong nhà thì rất "an" toàn. Ví dụ:

    Bên trái là bộ 女 nghĩa là phụ nữ, người mẹ.

    Bên phải là bộ Tử 子, nghĩa là đứa con, trẻ con.

    Yǎotiǎo shūnǚ, jūnzǐ hǎo qiú.

    Ở trên là bộ Thổ 土 (Tǔ) với nghĩa là đất

    Ở trên là bộ Tử 子 (Zi) với nghĩa là con cái

    Đây là câu đố chiết tự chữ thuỷ 始. Chữ thuỷ 始 vốn là một chữ hình thanh, có chữ thai 台 chỉ âm, chữ nữ 女 (con gái) nói nghĩa.

    Những trường hợp này xuất hiện rất ít và thường thì không chr thuần nhất chiết tự về âm đọc mà còn kèm theo cả phần hình thể hoặc ý nghĩa.

    Bên trên có chữ VŨ 雨 (Yǔ) nghĩa là mưa

    Bên dưới trái có chữ MỘC 木 (Mù) nghĩa là cây cối

    Bên dưới phải có chữ MỤC 目 (Mù) nghĩa là mắt

    Bên trên trái có chữ 月(Yuè) NGUYỆT, phải có bộ 犬 (Quǎn) KHUYỂN.

    Huà hǔ huàpí nán huà gǔ, zhīrén zhī miàn bùzhī xīn.

    Lưỡng Nhật (日rì) bình đầu nhật

    Tứ sơn (山 Shān) điên đảo sơn

    Lưỡng vương (王Wáng) tranh nhất quốc

    Tứ khẩu (口 Kǒu) tung hoàng gian

    Qua câu này chúng ta nhớ thêm được cả bốn từ:

    Nhật: 日rì- hai chữ Nhật đặt vuông góc với nhau ra chữ Điền 田

    Sơn: 山 Shān - bốn chữ Sơn quay theo bốn chiều chập vào nhau ra chữ Điền 田

    Vương: 王 Wáng- hai chữ Vương đối đầu vuông góc và chập vào nhau cũng ra chữ Điền 田

    Khẩu: 口 Kǒu - bốn chữ Khẩu đứng gần nhau ra chữ Điền 田

    Bên trái là chữ HIẾU, bao gồm ở trên là chữ 土 THỔ (nghĩa là đất), có một gạch chéo, ở dưới là chữ 子TỬ (nghĩa là con) .

    Bên phải là bộ Suy/ Tuy 夊 (Suī), có cách viết gần giống chữ PHỤ 父 (Fù) ( nghĩa là bố)

    Bên trái có bộ Xích ( ở đây có hình tượng con chim chích đậu trên cành tre)- Chích và Xích cùng cùng âm.

    Bên trên có chữ Thập: 十Shí

    Dưới chữ Thập 十 là chữ Tứ: 四 Sì

    Dưới cùng là chữ Tâm: 心 Xīn

    Giản thể là: "来" cho dễ viết.

    Ở hai bên chữ Mộc có hai chữ Nhân 人

    Sau giản thể là: "轰" cho dễ viết.

    Bao gồm ba chữ Xa 车 chập lại.

    Một nười thì luôn hướng mặt về phía trước để đi, nếu hướng về phía sau tì là chữ 入(Rù) Nhập.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Tranh Chữ Lộc Trong Phong Thủy
  • Chữ Lộc Trong Tiếng Hán
  • Ý Nghĩa Chữ Nhẫn Trong Tiếng Hán Và Cuộc Sống Người Việt
  • Ý Nghĩa Chữ Lộc Trong Tiếng Hán Cổ Xưa
  • Ý Nghĩa Chữ Đức Tiếng Hán
  • Chữ Lộc Trong Tiếng Hán – Học Tiếng Hán Với Thanhmaihsk

    --- Bài mới hơn ---

  • Tản Mạn Đôi Điều Về Chữ Hán
  • Vietsciences; Lê Anh Minh ; Le Anh Minh ; ; Science, Khoa Hoc, Khoahoc, Tin Hoc, Informatique;computer; Vat Ly; Physics, Physique, Chimie, Chemistry, Hoa Hoc, Sinh Vat, Biologie, Biology;biochimie;bio
  • Tra Chữ Hán Bằng Cách Viết Nét Trên Máy Tính Và Điện Thoại – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm
  • 214 Bộ Thủ Chữ Hán (Có File Download)
  • Cùng Tìm Hiểu Về Chữ Phật
  • Tìm hiểu về ý nghĩa chữ lộc trong tiếng Hán, học chữ lộc tiếng Hán như thế nào. Cách viết chữ lộc trong tiếng Trung đẹp.

    “Lộc” là một trong ba chữ trong câu chúc tết của người Việt đó là “Phúc-Lộc-Thọ”. Vậy chữ lộc trong tiếng Hán có ý nghĩa như thế nào mà ai cũng mong muốn thật nhiều. Cùng tiếng Trung THANHMAIHSK tìm hiểu về chữ lộc để mọi người cùng sáng tỏ.

    1. Ý nghĩa chữ Lộc trong quan điểm người Trung Hoa

    Chữ LỘC trong văn hóa xưa thường nhắc người ta nhớ tới cảnh vinh quy bái tổ. Tôi nhớ ai đó ở Bến Tre kể về vị tiến sỹ đầu tiên ở đất Nam Kỳ về Ba Tri… Ngài đã đi bộ từ ngoài lộ qua bưng, qua vườn đến nhà tranh trong vườn để lạy thầy giáo của mình rồi sau đó mới về lạy cha, lạy mẹ… Sắp có bổng lộc triều đình, Phan Thanh Giản đã làm ta phải nể kính một nhân cách lồng lộng…

    Thời xưa, Lộc tức là bổng lộc mà các Quan được nhận. Có thứ Lộc của Vua ban, có thứ Lộc của dân biếu. Vua ban để ghi nhận công lao của các Quan đã chí công vô tư, thay Vua cai quản, chăn dắt đám dân chúng dưới quyền! Còn dân kính biếu Quan, để bày tỏ lòng biết ơn về một công việc gì đó, quan đã vì quyền lợi chính đáng của dân, mà làm. Như vậy hoàn toàn có thể nói Lộc chính là sự ghi nhận công lao các Quan: công lao với dân và công lao với Vua, với nước. Lộc là thành quả, sự đền đáp xứng đáng của công lao.

    Lộc biểu tượng cho một trong những hạnh phúc lớn nhất của đời người đó là tài tộc dồi dào. Lộc còn bao hàm ý nghĩa may mắn, phúc tốt lành. Mỗi độ Tết đến, cùng với chữ Phúc, Thọ, người Việt Nam thường treo bộ tranh ba chữ Phúc – Lộc – Thọ để cầu mong tài lộc đến với mỗi người. Người dân còn có tục lệ đi hái lộc vào những ngày đầu năm mới. Người ta hái những lộc non về như đem tài lộc, may mắn về với gia đình trong suốt năm.

    Tài Lộc cũng như chồi lộc non mùa xuân. Mùa xuân chồi lộc đua nhau xanh mơn mởn. Lộc non là thành quả của những ngày đông rét mướt trong kén lá. Lộc non tô điểm cành đào ngày Tết. Người Việt Nam chuộng những cành đào có cả lộc non xanh mơn mởn và hoa đào tươi hồng. Giống như, bên cạnh sức khỏe và hạnh phúc, người người đều mong muốn tài lộc để đủ đầy thêm hạnh phúc của mình. Lộc như chồi non, làm mơn mởn cuộc sống sung túc của mỗi người.

    2. Tại sao các thánh hiền lại không coi trọng chữ lộc

    Những vở tuồng cổ kể về những câu chuyện đậu đạt, có quan Lộc thường theo một motip 3 chặng:

    Nhân vật mang mặt nạ trắng, mặc áo đỏ, đi 3 vòng quanh sân khấu. Anh ta chỉ cười mà không nói.

    Anh ta bồng một đứa bé rất kháu khỉnh, rồi lại lượn 3 vòng trên sân khấu.

    Anh ta ra sân khấu với tiền hô hậu ủng, mang theo 4 chữ GIA QUAN TIẾN LỘC nghĩa là “Thăng quan tiến Lộc”…

    Bây giờ nói về cá Chép. Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa ở sông Hoàng Hà, con sông nuớc chảy rất dữ dội có đàn cá Chép bơi ngược dòng đến để nhảy qua Vũ Môn. Con nào vượt được dù lành lặn hay “trầy vi tróc vảy”, mang miệng dù bị chảy máu vẫn được hóa Rồng.

    Đời Tống khi nói LÝ NGƯ KHIÊU LONG MÔN là chỉ những người đã trót lọt những khoa thi Hương, thi Hội, thi Đình như cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến sau này. Họ sẽ ra làm quan. Mà “một người làm quan cả họ được nhờ”.

    Có một chữ LỘC tiếng Hán đồng âm với “Lộc” mà chúng ta đang bàn này có nghĩa là con cá Chép (người Việt đọc là Lý chứ không đọc Lộc). Đây là lý do tranh Tết treo cá Chép nuốt Trăng. Tại sao đêm trăng trung thu lại rước đèn Cá Chép… Đó là ước mơ vượt Vũ Môn, hóa Rồng, có quyền lực. Quả thật muốn làm quan to, quyền cao chức trọng thì phải đoạt Giải Nguyên. Chữ GIẢI lại là con cua. Mua Cua cho nó cắn mấy trò lười học nhất định có ngày giải nguyên.

    Chữ LỘC là danh lợi cho nên bàn về nó thật rắc rối “Quyền LỘC cũng lắm công phu”. Từ con Hươu tìm linh chi đang mọc sừng, mọc lộc, đang chạy nặng nề với cùng ông Phán Mọc Sừng bỗng dưng nhảy ùm xuống sông Hoàng Hà làm trọng tài ném những con Chép vượt Vũ Môn.

    Muốn được LỘC nhiều thì làm quan to. Công, Hầu, Bá, Tư, Nam… Làm Công như Trần Hưng Đạo Quốc Công tiết chế thì có mà mơ. Làm Nam tước, Tử tước thì đi đâu cũng đã có “tiền hô hậu ủng” rồi. Cũng không hiểu sao, nhân vật Từ Hải ở truyện Kiều trong con mắt triều đình là giặc cỏ nhưng khi lập ra một bờ cõi “rạch đôi sơn hà” thì cụ Nguyễn lại gọi là TỪ CÔNG:

    “Từ Công nghe nói thủy chung”

    Hoặc :

    “Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi”.

    Cho hay, cái nhìn của Nguyễn Du, cách dùng từ của cụ quả là động chạm tới nhãn quan của vua chúa. Chẳng trách mà Tự Đức muốn đánh Cụ 300 roi! Chỉ cần được ban cho Hầu Tước là vị quan ấy đã được Phong cho hàng ngàn mẫu đất để Kiến tạo cơ đồ. Hóa ra PHONG KIẾN chính là chế độ cho chữ Lộc được nói tới nhiều nhất.

    Có một chư “̃Hầu” đồng âm là “con Khỉ”. Vì thế ẤN PHONG HẦU là ấn phong cho con khỉ. Các bạn chú ý bức tranh con khỉ đang bất chấp ngã dập mặt đưa tay giành ấn. Chữ LỘC có biểu tượng là con Khỉ. Ai nói giành Lộc với thiên hạ lại không nguy hiểm? Khi vào triều thì phải HANH THÔNG QUAN LỘ. Vì thế mà ta gặp nghịch cảnh làm trò thật hài hước: con Khỉ ngồi trên lưng ngựa như chiến tướng xưa định uống rượu ngon nhưng nghe tiếng đàn tỳ bà giục lên yên cương sống mái chốn sa trường, vi vu ra chiến địa.

    Chữ LỘC còn dính tới cụm từ: “Quan thượng gia quan”. Mào gà trống trong tiếng Tàu là “Quan”. Do đó, khi vẽ con gà trống đứng oai vệ bên những bông Mồng Gà thì ta biết đó là lời chúc thăng quan tiến chức thật nhanh. Chữ “Quan” ở sau là “mũ nón”. Thay kiểu mũ tức là thay chức tước nên cụm từ trên được dịch là: “Lên quan, gia tăng chức tước”. Cũng nói thêm, con gà là linh vật đuổi tà. Đấy, để lấy bổng LỘC quyền lực phải đấu với người, đấu với ma quỷ, phải mang tội sát sinh không biết bao nhiêu gà qué tiêu đời, không biết làm lợi cho bao nhiêu lão thầy bói đưa chân gà về treo giàn bếp hong khói để “quét nhà ra rác”.

    Hết động vật, người ta tìm Lộc trong hoa lá. Hoa Mẫu Đơn gọi là hoa phú quý. Cho nên người cầu lộc không thể thiếu hoa này. Nghe nói đây là loài hoa làm cho Từ Hy Thái hậu mê tới phát cuồng… Bộ 3 Mẫu Đơn, Ngọc Lan, Hải Đường gọi là: NGỌC ĐƯỜNG PHÚ QUÝ. Nghĩa là: “giàu sang điện ngọc”. Khi kết hợp bộ tứ: Sen, Cúc, Mận, Mẫu Đơn thì gọi là: TỨ QUÝ BÌNH AN. Nghĩa là “bình an bốn mùa”.

    Vật lộn với chữ Lộc là đặt mình trong tình thế mong manh giữa chính và tà, giữa tốt và xấu. Quyền lực càng tuyệt đối, tha hóa càng tuyệt đối. Lòng tham con người là vô đáy… Cái Lợi cái LỘC cho người ta tăng trưởng cái phần “con” của con người tha hóa. Đặc biệt là con người hôm nay không kính Trời, kính Phật, chỉ biết lợi. Họ dùng tiền bạc để có “chức vị”. Sau đó dùng chức vị để có tiền bạc, hưởng thụ…

    Người xưa có 2 chữ “Lộc Đố” nghĩa là làm sâu làm mọt, đục khoét dân mà có Lộc (Đố là con mọt gỗ). Chắc gương Hòa Thân giàu có hơn cả triều đình nhà Thanh bị tử hình là một bằng chứng. Đổng Trác bị treo thây ngoài chợ, Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai mổ sống người để bán nội tạng làm giàu đang chờ “Hiện thế hiện báo”…

    Cần nhắc lại nàng Kiều khi làm phu nhân, làm vợ Từ Hải đã bị cái bả quyền lực này làm tha hóa nhân cách. Chữ LỘC biến người ta theo chủ nghĩa cơ hội, thành hợm hĩnh, thành người tự dối chính mình. Đây là tính toán của một người cơ hội:

    Sao bằng LỘC trọng QUYỀN cao,

    CÔNG DANH ai dứt lối nào cho qua…

    Với chừng ấy câu chữ nhàn đàm về chữ Lộc, chúng ta đã có thể phát hiện ra ý nghĩa ẩn dụ thú vị ở những hình ảnh, những hình tượng trong hội họa, trong kiến trúc xưa. Hình ảnh quen thuộc là chú Hươu, con Cá Chép. Nhưng chữ Lộc không đơn giản là như vậy. Danh, Lợi, Tình vốn gắn với thế giới Mê của con người, là đặc sản của nhân loại. Con người vì ba chữ này mà sống. Do đó chữ Lộc cũng thật nhiêu khê, rắc rối…

    Nhưng đó là những người có sự am hiểu sâu rộng về sách Thánh Hiền còn chúng ta ai cũng mong muốn rằng trong năm mới, gia đình sẽ có thật nhiều tài lộc, phát tài, gia đình thịnh vượng. Và đó cũng là lời chúc chúng ta thường dành cho nhau mỗi dịp năm mới.

    Ngôn ngữ chính là một trong những cây cầu giúp chúng ta tìm hiểu lịch sử và văn hóa Trung Quốc, còn rất nhiều điều thú vị về nơi đây để chúng ta khám phá và cũng là động lực để chúng ta thêm hứng thú với mỗi bài học tiếng Trung được giảng dạy tại trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK.

    ĐĂNG KÝ HỌC TẠI ĐÂY

    Thủ đô của Việt Nam là gì (viết liền in hoa không dấu) ?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Trong Tiếng Hán, Thư Pháp Và Văn Hóa Việt
  • Ý Nghĩ Của Chữ Lộc Trong Tiếng Hán
  • Sách “Thọ Mai Gia Lễ” Miền Nam
  • Viết Triệu – Văn Tế Trong Đám Tang
  • Cách Viết Chữ Hán Và Dấu Câu Trong Giấy Kẻ Ô
  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữ Tâm Trong Tiếng Hán: Cách Viết Và Ý Nghĩa Của Chữ Tâm
  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán: Ý Nghĩa, Cách Viết
  • Cách Viết Tiếng Nhật Trên Máy Tính
  • Cách Viết Tiếng Trung Quốc (Chữ Hán) Cơ Bản Với Chinese
  • Tập Viết Chữ Hán: 8 Quy Tắc Viết Chữ Trung Quốc Bắt Buộc Phải Nhớ
  • Là một trong 3 khát cầu lớn nhất của đời người, chữ Phúc đóng một vai trò quan trọng trong văn hóa, tín ngưỡng cũng như cuộc sống của người dân nước ta từ xa xưa. Hiện nay, các mẫu chữ Phúc được sử dụng để treo trong nhà hầu hết được viết theo chữ cải cách với vần abc, tuy nhiên, nếu muốn nói đễn ý nghĩa sâu xa của chữ này thì ta cần đề cập đến . Theo đó ý nghĩa chữ Phúc trong tiếng hán xưa được cho thấy ngay cả trong cấu tạo, cách viết. Chữ Phúc ngày nay kế thừa hầu hết các ý nghĩa này, tuy nhiên về mặt cấu tạo, cách viết thì không còn mang hàm ý giải nghĩa như trước.

    Ý nghĩa chữ Phúc trong tiếng Hán

    Ý nghĩa của chữ Phúc trong tiếng Hán được giải thích rất cụ thể qua cấu tạo của chữ này. Cụ thể, chữ Phúc trong tiếng Hán được viết như sau:

    Theo phương pháp chiết tự, ta có thể thấy chữ Phúc trong tiếng Hán được cấu tạo bởi 4 bộ phận như sau:

    • Bộ phận thứ nhất là bộ thủ bên trái của chữ Phúc. Bộ thủ bên trái này là bộ thị Nghĩa đen của bộ này là sự cầu thị. Việc sử dụng bộ thị trong chữ này thể hiện sự cầu mong, khát khao của con người về một thứ gì đó.
    • Ba bộ phận tiếp theo là tổ hợp 3 bộ thủ nằm bên phải của bộ thị. Ba bộ thủ này gồm có bộ miên trên cùng, bộ khẩu ở giữa và bộ điền ở dưới cùng. Theo đó:
      • Bộ miên ý chỉ mái nhà, là nơi che chở cho một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, là nơi đánh dấu sự trưởng thành của một con người, là dấu mốc cuối cùng trong 3 dấu mốc “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà” mà ông bà ta ngày xưa đã dạy. Trong chữ Phúc, bộ miên có nghĩa là cuộc sống có Phúc phải là cuộc sống có nhà để ở, có nơi để về, để an cư lạc nghiệp
      • Nằm ở giữa, dưới bộ miên là bộ khẩu , bộ khẩu đại diện cho nhân khẩu, ý chỉ người, hay cụ thể hơn là con cháu. Vì thế, bộ khẩu trong chữ Phúc có ý nghĩa con cháu đầy đàn, gia đình vui vẻ, đầm ấm, quây quần, hạnh phúc bên nhau.
      • Cuối cùng là bộ điền , bộ điền ý chỉ đất đai, ruộng vườn. Một cuộc sống hạnh phúc không chỉ cần có nhà, có con cháu đầy đàn mà còn cần có của cải vật chất. Đất đai ruộng vườn xưa là cái cốt lõi phát triển của một con người, là của cải để cuộc sống ngày một sung túc, ấm no, là tiền đề cho một cuộc sống hạnh phúc, an cư lạc nghiệp

    Tổng hợp lại cấu tạo của chữ Phúc trong tiếng Hán, ta có thể hiểu sơ bộ một cách đơn giản về ý nghĩa của chữ này. Rằng chữ Phúc chính là chữ viết tắt cho mong ước của con người về một cuộc sống bình yên có nhà để về, gia đình hòa thuận, con đàn cháu đống, có ruộng đất để làm ăn. Đó là một ước mơ bình dị, về một cuộc sống thoải mái, yên ổn, không quá truy cầu sự giàu sang, phú quý.

    Cách đọc và viết chữ Phúc trong tiếng Hán

    Mang trong mình nhiều ý nghĩa quan trọng, điểm đặc biệt của chữ Phúc còn thể hiện qua cả cách phát âm và cách viết.

    Cách đọc chữ Phúc trong tiếng Hán

    Bên cạnh cấu trúc giải thích một phần ý nghĩa thì ý nghĩa của chữ Phúc trong tiếng Hán còn được thể hiện qua phát âm hay nói cách khác là cách đọc của chữ này. Chữ Phúc trong tiếng hán có phát âm là fú đồng âm cùng với phú có nghĩa là giàu sang, phú quý. Thời xưa, khi chữ Phúc bị kiêng (trùng với tên của hoàng đề,…) thì thường sẽ được thay bằng từ đồng âm là Phú, về lâu dài, người ta cũng cho rằng chứ Phúc cũng có bao gồm cả Phú, cầu Phúc có nghĩa là cầu cả sự giàu sang, phú quý nữa.

    Trong tiếng Việt ta, chữ Phúc còn được gọi là Phước, cách gọi này phổ biến nhiều ở các khu vực miền trong hơn là ngoài bắc, trong đó hầu hết các trường hợp Phúc đều có thể thay thế cho Phước, nhưng không phải bất cứ trường hợp nào Phước cũng có thể thay thế hoàn toàn cho Phúc.

    Cách viết chữ Phúc trong tiếng Hán

    Chữ Phúc trong tiếng Hán được cấu tạo bởi 13 nét, được viết theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Cụ thể là bộ thị sẽ được viết trước, sau đó lần lượt đến bộ miên, bộ khẩu và cuối cùng là bộ điền. Cách viết này cũng thể hiện thứ tự truy cầu của người xưa với chữ Phúc, từ có nhà, có gia đình vui vẻ đến có của cải, ấm no.

    Như vậy ta có thể thấy, dù chỉ là một chữ trong hàng ngàn chữ tiếng Hán xưa nhưng chữ Phúc lại mang trong mình mong ước, sự truy cầu mà con người cần phải dùng cả đời để có thể phấn đấu đạt được.

    Tập tục treo chữ Phúc lộn ngược

    Ngày nay, dù tranh chữ Phúc được viết theo lối viết hiện đại ngày càng được phổ biến, tuy nhiên, rất nhiều gia đình cũng rât thích treo chữ Phúc xưa, và nếu bạn chú ý kỹ, bạn có thể thấy được rằng, đa phần những chữ phúc này đều được treo ngược. Tại sao lại như vậy?

    Trên thực tế, đây là một cách chơi chữ của người Trung Quốc, cụ thể, việc treo ngược chữ Phúc có nghĩa là Chữ Phúc bị ngược rồi. Trong tiếng Hán, chữ Phúc bị ngược rồi được phát âm là “fú dào le” trong đó “dào” cung là phát âm của đến. Vì thế Phúc ngược rồi đọc sẽ giống như Phúc đến rồi. Đây chính là lý do người ta khi dán chữ Phúc tiếng Hán sẽ dán ngược.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nhớ Chữ Hán Dễ Dàng
  • Đánh Chữ Hán Trên Vi Tính
  • Cách Viết Chữ Trên Facebook Messenger Kiểu In Đậm, In Nghiêng
  • Cách Viết Chữ Hiệu Ứng Độc Đáo, Chữ In Đậm, Nghiêng,…lên Facebook
  • 21 Thủ Thuật Và Tính Năng Trên Facebook Mà Bạn Nên Biết
  • Chữ Tâm Trong Tiếng Hán: Cách Viết Và Ý Nghĩa Của Chữ Tâm

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán: Ý Nghĩa, Cách Viết
  • Cách Viết Tiếng Nhật Trên Máy Tính
  • Cách Viết Tiếng Trung Quốc (Chữ Hán) Cơ Bản Với Chinese
  • Tập Viết Chữ Hán: 8 Quy Tắc Viết Chữ Trung Quốc Bắt Buộc Phải Nhớ
  • Hướng Dẫn Viết Chữ Trên Bia Mộ, Lăng Mộ.
  • Đối với văn hoá Á Đông nói chung và văn hoá Việt Nam nói riêng chữ Tâm rất quen thuộc và bình dị. Càng trở nên thân thương thì chữ Tâm càng chứa đựng nhiều ý nghĩa to lớn. Chữ Tâm đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sự cho tới nay, tốn không ít giấy mực và là đề tài bàn luận sôi nổi.

    Ý nghĩa chung của chữ Tâm

    Theo nhiều trường phái tôn giáo và triết học thì chữ Tâm đều có những ý nghĩa và đặc điểm quy tụ như sau:

    • Chữ Tâm khi nói tới là trái tim, lương tâm và lòng dạ của con người. Mỗi hành động mà chúng ta làm đều xuất phát từ cái tâm, tâm thiện và hành động theo lẽ phải. Nếu tâm không thiện sẽ phạm phải những điều xấu và tội lỗi.
    • Chữ Tâm dùng để hướng suy nghĩ con người tới việc dưỡng tính, tu thân, cái thiện và sống tích cực. Tâm lệch lạc làm con người sống điên đảo và gian dối, tham lam, đố kỵ.

    Vậy nên mỗi người trong chúng ta cần để tâm mình đặt lên ngực mà yêu thương, đùm bọc và giúp đỡ người khác. Đặt lên mắt để thấy được nỗi khổ, đặt lên chân để may mắn tới mọi người, đặt lên miệng nói lời an ủi, đặt lên vai để có trách nhiệm.

    Ý nghĩa chữ Tâm trong Phật giáo

    Chữ Tâm trong Phật giáo không đơn giản như các giả học phương Tây nghĩ. Tâm ở đây là phạm trù quan trọng và cơ bản của Phật giáo. Chữ Tâm dẫn đầu trong các pháp, chủ, kim thánh phật. Nói khái quát thì chữ Tâm trong phật giáo phân thành 6 loại tâm như sau:

    • Nhục đoàn tâm: Là trái tim thịt không nghe những lời dèm pha phá huỷ, lời ác bên ngoài.
    • Tinh yếu tâm: Chỗ kín mật, chỉ sự tinh hoa cốt tuỷ.
    • Kiêm thực tâm: Cái tâm không được hư vọng, gọi là chân tâm.
    • Liễu biệt tâm: Ám chỉ tri thức giác quan và ý thức. Với tác dụng dựa vào ngoại cảnh bên ngoài mà phân biệt nhận thức.
    • Tư lượng tâm với chức năng chính là nhập lập trường chủ quan, không sa ngã bởi những yếu tố bên ngoài.
    • Tập khởi tâm: Chứa đựng mọi kinh nghiệm sống và nguồn gốc các hiện tượng tinh thần của con người. Đây là nơi lưu trữ hạt giống sinh ra muôn vật. Tâm lý học gọi đây là vô thức hay tiềm thức.

    thể hiện giá trị, tầm quan trọng ở các nét cọ mạnh mẽ, uyển chuyển, đầy sức tạo hình. Các tác phẩm chữ Tâm thư pháp chỉnh chu và luôn đặt ở vị trí quan trọng. Đây là lời khuyên và sự răn đe ý nói con người cần giữ cái Tâm đúng với bản chất.

    Thư pháp chữ Tâm thể hiện trong tiếng Hán hay chữ Quốc Ngữ trên nhiều chất liệu. Chữ Tâm cách điệu và tạo hình sáng tạo hơn tất cả đều nằm ở ý đồ của người nghệ nhân. Vì thế mà các bức tranh thư pháp và tác phẩm nghệ thuật thư pháp chữ Tâm ngày càng được ưa chuộng và sử dụng phổ biến.

    Chữ Tâm trong kinh doanh

    Trong lĩnh vực kinh doanh chữ Tâm ý nói tới đạo đức kinh doanh. Người chủ khi làm việc cần có tâm không dùng thủ đoạn, cần tôn trọng pháp luật. Đặc biệt là phải có cái tâm với nghề, bảo vệ người tiêu dùng sản phẩm. Bản chất của việc làm ăn kinh doanh sẽ làm ra nhiều tiền.

    Nhưng thường thì việc làm giàu sẽ dẫn tới 2 trường hợp là làm giàu hợp pháp và bất hợp pháp. Việc làm bất hợp pháp là vì lợi nhuận mà tổn hại sức khoẻ người dùng. Nên khi kinh doanh cần đặt cái Tâm vào nghề, đề cao lương tâm, sản phẩm cần chất lượng, phục vụ khách hàng tốt nhất.

    Quá trình sản xuất, buôn bán cần nỗ lực để tạo nên. Có như vậy quá trình kinh doanh mới bền lâu và tốt đẹp, tạo thành vòng tuần hoàn tốt cho xã hội, đời sống. Đạo đức trong kinh doanh rất quan trọng để khẳng định thương hiệu, có chỗ đứng vững vàng trên thị trường.

    Trong nho giáo con người đều có tâm, quan trọng là tâm xấu hay tốt. Người vô tâm sẽ ích kỷ và có tâm xấu, chỉ nghĩ tới bản thân. Tâm tốt lành luôn làm việc có ý nghĩa, nói lời hay và làm việc tốt. Trong thư pháp chữ Tâm viết bằng chữ Hán hay chữ Quốc Ngữ đều cách điệu và sáng tạo.

    Tất cả đều hướng con người tới việc giữ lương tâm trong sáng, lương thiện và hướng tới Chân Thiện Mỹ. Chữ Tâm còn có mặt trong các tác phẩm văn học Việt Nam như ca dao, tục ngữ, truyện nôm gồm Kim Vân Kiều, Nhị Độ Mai,…

    Trong giáo lý chữ Tâm diễn tả bằng nhiều danh từ như cõi lòng con người, lương tâm, tâm hồn, linh hồn. Có thể hiểu một cách tương đối chữ Tâm trong giáo lý là tâm hồn trong thân xác con người. Linh hồn tương quan tới thể xác trong bình diện con người. Lương tâm tương quan thiện các trên bình diện lý trí. Trái tim tương quan với sự yêu ghét trên bình diện tình cảm.

    Chữ Tâm trong tiếng Hán dùng để chỉ trái tim, tấm lòng, tâm tư. Đây là chữ tượng hình, gần giống với hình trái tim. Ở trên chữ Tâm trong tiếng Trung có 3 dấu chấm tượng trưng ba cái cuống tim. Chữ Tâm xuất hiện nhiều trong tranh chữ đầu năm với ý nghĩa tốt đẹp trong cuộc sống.

    Ý nghĩa chữ tâm tiếng Hán

    Chúng ta biết rằng chữ Tâm trong tiếng Hán gần giống với hình trái tim. Vì thế mà chữ Tâm có ý ngầm nói rằng tất cả mọi việc chúng ta làm cần xuất phát từ cái tâm. Cần phải có tâm trong sát cuộc đời mới ngọt ngào như quả thơm.

    Cách viết chữ Tâm trong tiếng Hán

    Quy tắc viết chữ Tâm trong tiếng Hán mà chúng ta cần phải ghi nhớ đó là viết từ trái qua phải, từ trên xuống dưới và từ trong ra ngoài. Quy tắc này áp dụng cho mọi bộ chữ Hán từ giản thể đến phồn thể. Khi thuộc quy tắc viết bạn sẽ tiến hành ghép các nét chính trong chữ với nhau.

    Thứ tự viết chữ Tâm tiếng Hán như sau:

    Nếu bạn có ý định tìm mua các sản phẩm về chữ Tâm không thể bỏ qua các bức tranh . là địa chỉ cung cấp tranh đồng chất lượng và cao cấp. Tranh đồng có giá trị kinh tế lẫn tinh thần rất cao nên đây là món quà ý nghĩa. Hãy liên hệ Dung Quang Hà để được tư vấn, sở hữu tranh đồng chữ Tâm chất lượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán
  • Cách Nhớ Chữ Hán Dễ Dàng
  • Đánh Chữ Hán Trên Vi Tính
  • Cách Viết Chữ Trên Facebook Messenger Kiểu In Đậm, In Nghiêng
  • Cách Viết Chữ Hiệu Ứng Độc Đáo, Chữ In Đậm, Nghiêng,…lên Facebook
  • Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Tiếng Hán

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Tắc Viết Phiên Âm Trong Tiếng Trung
  • Bài 12: Thanh Điệu Và Những Quy Tắc Cần Nhớ
  • Cách Đọc Bảng Số Đếm Tiếng Trung Dễ Hiểu, Dễ Nhớ
  • Tải Phần Mềm Viết Sớ Chữ Nho, Phần Mềm Windows
  • Lưu Ý Và Cách Học Chữ Hán Trong Tiếng Nhật Cực Kỳ Hiệu Quả
  • Phúc (hay còn gọi là Phước) là biểu trưng cho sự may mắn, sung sướng và hạnh phúc. Từ ngày xưa con người đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ phúc mà ngày nay chúng ta thường thấy trong các tài liệu nghiên cứu, các áng văn chương, trong kiến trúc, trong các vật trang trí và ngay cả trên các y phục…

    Chữ Phúc nghĩa là:  Những sự tốt lành đều gọi là Phúc. Trong Kinh Thi chia ra 5 phúc: (1) Giàu 富 (2) Yên lành 安寧 (3) Thọ 壽 (4) Có đức tốt 攸好德 (5) Vui hết tuổi trời 考終命. [1] Cũng có nhiều sách nói: ngũ phúc: năm điều phúc đến nhà, là 富 phú, 貴 quý, 壽 thọ, 康 khang, 寧 ninh

    Đây là một niềm ước mơ của người dân khi mùa xuân về. Nếu chiết tự chữ Phúc 福có thể thấy là toàn bộ ước mơ về một cuộc sống đủ đầy: Bên trái là bộ thị – ở đây có nghĩa là kêu cầu, mong muốn thể hiện ước mơ của con người). Bên phải gồm 3 bộ chữ: Bộ miên 宀 chỉ một mái nhà – (phải có nhà để ở, an cư rồi mới lạc nghiệp). Dưới là bộ khẩu nghĩa là miệng – (trong nhà phải có người, cả gia đình sum họp vui vẻ, tiếng nói cười rộn rã, không khí gia đình phải vui tươi đầm ấm). Dưới cùng là bộ điền 田 – (có nhà rồi phải có ruộng để cày cấy sinh sống. có ruộng, có đất đai là có tất cả. Như vậy chữ phúc 福 là một ước mơ bình dị về một cuộc sống yên bình, mong sao cho gia đình có người, có nhà, nề nếp hiếu thuận, ấm êm; có ruộng để làm ăn sinh sống. Đó là ước mơ ngàn đời của những con người lao động, không mơ sự giàu sang, phú quý, mà chỉ ước mơ một cuộc sống giản dị tốt đẹp, bền lâu mãi mãi. Cuộc sống như thế chính là phúc – chỉ một chữ mà gợi lên cảnh sống yên bình, lương thiện, hiền hòa.

    Cũng như câu đối, dán chữ “Phúc” cũng là một tập tục rất lâu đời trong dân gian. “Phúc” là một trong những chữ lâu đời nhất của Trung Quốc,chữ “Phúc” ngày nay, do bộ “lễ” ( 礻)  và 3 chữ “nhất” (一), “khẩu” (口), “điền”  (田) biểu hiện sự cầu mong của con người, sao cho có ruộng có vườn và một đời sống no đủ.

    Dán chữ “Phúc” là gửi gắm ước vọng, niềm mong mỏi của con người về cuộc sống hạnh phúc và tương lai tươi sáng. Nhằm thể hiện rõ hơn, đầy đủ hơn niềm hy vọng này, nhiều người còn dán ngược chữ “Phúc” để biểu thị ý nghĩa “Hạnh phúc đã đến”, “Vận may đã đến”.

    Vì sao khi dán ngược? Tương truyền, vào thời nhà Thanh, có một năm khi chuẩn bị Tết, viên đại quản gia trong phủ Cung thân vương theo lệ, đã viết rất nhiều chữ “Phúc”, rồi sai người đi dán khắp nơi trong phủ. Chẳng may, có một người hầu không biết chữ đã dán ngược chữ “Phúc” lên chính giữa cánh cửa lớn của vương phủ, khiến người qua lại đều buột miệng: “福 倒 了” (Chữ Phúc dán ngược ). Nghe vậy, đám thân vương quý tộc và các mệnh phụ phu nhân thay vì giận dữ lại tỏ ra vô cùng hoan hỉ, coi đó là điềm lành, bèn cho gọi người hầu đến trọng thưởng!

    Trong tiếng Hán, chữ “đảo” (倒) nghĩa là “ngược” với chữ “đáo” (到) có nghĩa là “đến”, “tới” lại có cùng âm đọc là “dào”, nên khi nghe ai đó nói “Phúc đảo liễu” thì người nghe hoàn toàn có thể hiểu là “Phúc đến rồi” (Phúc đáo liễu: 福 到了)

    Ngày nay ở Trung Quốc, có một số gia đình vẫn thích dán ngược chữ “Phúc” trong dịp Tết với hi vọng hạnh phúc, vận may sẽ đến. 

    Tóm lại trong tiếng Hán, chữ Phúc mang đến nghĩa no đầy, hạnh phúc, may mắn. Chữ Phúc lộn ngược đầu được đọc là ” phúc đảo” đồng âm với từ ” phúc đáo” nghĩa là phúc đến. Dán ngược chữ Phúc như vậy mới mang đầy đủ ý nghĩa là phúc tới, đem dán trước cửa nhà thì trở thành  ”phúc đáo tiền môn – phúc đến trước cửa”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cùng Tìm Hiểu Về Chữ Phật
  • 214 Bộ Thủ Chữ Hán (Có File Download)
  • Tra Chữ Hán Bằng Cách Viết Nét Trên Máy Tính Và Điện Thoại – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm
  • Vietsciences; Lê Anh Minh ; Le Anh Minh ; ; Science, Khoa Hoc, Khoahoc, Tin Hoc, Informatique;computer; Vat Ly; Physics, Physique, Chimie, Chemistry, Hoa Hoc, Sinh Vat, Biologie, Biology;biochimie;bio
  • Tản Mạn Đôi Điều Về Chữ Hán
  • Ý Nghĩ Của Chữ Lộc Trong Tiếng Hán

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Trong Tiếng Hán, Thư Pháp Và Văn Hóa Việt
  • Chữ Lộc Trong Tiếng Hán – Học Tiếng Hán Với Thanhmaihsk
  • Tản Mạn Đôi Điều Về Chữ Hán
  • Vietsciences; Lê Anh Minh ; Le Anh Minh ; ; Science, Khoa Hoc, Khoahoc, Tin Hoc, Informatique;computer; Vat Ly; Physics, Physique, Chimie, Chemistry, Hoa Hoc, Sinh Vat, Biologie, Biology;biochimie;bio
  • Tra Chữ Hán Bằng Cách Viết Nét Trên Máy Tính Và Điện Thoại – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm
  • 1.Nguồn gốc hình thành chữ Lộc

    Chữ Lộc có nguồn gốc từ Trung Hoa và được người xưa xem như một đức tin để có thể hưởng tài lộc. Lộc là bổng lộc của vua ban, lộc của dân biếu. Lộc vua ban nhằm úy lạo cho bề tôi, ghi nhận công lao đóng góp của các quan đã cống hiến cho triều đình. Lộc do dân biết để tỏ lòng biết ơn những việc quan làm cho dân, lo cho cuộc sống của nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Lộc là thành quả, sự đền đáp xứng đáng cho công lao cũng như trí tuệ, sự lao động , cống hiến với nước với dân.

    2.Ý nghĩa của chữ Lộc trong tiếng Hán

    Chữ Lộc trong tiếng Hán

    Người xưa giải thích rằng lộc là do trời ban nên trong chữ có bộ thị, còn chữ Lục đóng vai trò là biểu âm. Chữ Lộc nghĩa gốc là sự phúc khí, điều tốt lành, bổng lộc.

    3. Ý nghĩa Chữ Lộc trong Phúc Lộc Thọ

    Chữ Lộc đứng giữa chữ Phúc và chữ Thọ

     Từ xưa tới nay, ông cha ta vẫn thường nói “Phúc-Lộc-Thọ”, là câu chúc được sử dụng rất nhiều trong nền văn hóa Trung Hoa và Việt Nam để nói về 3 điều cơ bản cấu thành một cuộc sống tốt đẹp là : điều lành (Phúc), sự thịnh vượng (Lộc) và trường thọ (Thọ).

    Mỗi điều được tượng trưng bởi một vị thần, kết hợp lại gọi chung là Phúc-Lộc-Thọ hay còn gọi là Tam Đa. Lộc được kẹp giữa 2 chữ Phúc và Thọ, ý nghĩa cũng phụ thuộc vào 2 chưa phúc-thọ. Nếu cuộc sống chỉ quan tâm tới Lộc thì con người dễ bị lạc lối, chìm đắm vào tiền bạc, danh vọng mà không thoát ra được.

    Tài Lộc có nguồn gốc từ Phúc mà có, vậy người am hiểu tài vận chắc hẳn phải chăm lo cho Phúc phần, Phúc có lớn thì tài lộc mới bất tận. Ngược lại nếu không chăm lo cho Phúc mà chỉ biết hưởng thụ thì Phúc cũng dần tàn lụi.

    Người xưa có câu “thực lộc tận tắc mệnh tận” có nghĩa là ăn hết lộc thì vận mệnh cũng hết. Ở đây vận mệnh không phải là hết đời, rời xa dương gian, mà ý nói là không làm nên việc gì, vận may cũng đã hết, sẽ giống như cây đèn hết dầu chập chờn  ánh sáng nhỏ nhen trước khi tắt hẳn.

    Chính vì hiểu rõ về đạo lý phúc-lộc mà các tỷ phú ngày nay đều vun trồng cho cây Phúc lớn mạnh bằng cách đem lộc được hưởng đi giúp đỡ những người nghèo khổ. Trong thương trường họ cũng làm ăn chân chính, không sử dụng những thủ đoạn tàn độc , khi đối thủ làm ăn thất bại, họ vẫn chừa một con đường sống. Vì vậy mà nhiều gia đình lộc trải dài qua nhiều thế hệ, con cháu được hưởng phúc lộc viên mãn.

    Do vậy chữ Lộc chân chính có ý nghĩa :

    Những điều may mắn, tốt lành mà con người xứng đáng được hưởng. Khi có tài năng, có chức có quyền, có phúc đức của gia đình, ông cha để lại thì sẽ xứng đáng được hưởng thụ tiền tài, quan lộc mà chính bàn tay khối óc và vận số của mình làm ra.

    4. Ý nghĩa của chữ Lộc trong đời sống hiện nay

    Chữ Lộc thể hiện 1 trong 3 niềm hạnh phúc mà con người mong ước

    Trong cuộc sống hiện đại, chữ Lộc được hiểu theo nghĩa rộng hơn rất nhiều, không đơn giản là chỉ làm quan mới có lộc, mà tất cả mọi người khi chịu khó làm việc, học hỏi, đúc kết, tích lũy tài năng, cống hiến, sáng tạo để tạo ra những sản phẩm có giá trị, chất lượng ….sẽ được thị trường người tiêu dùng ghi nhận , khi đó công việc làm ăn phát đạt đều sẽ có Lộc.

    Chính vì vậy Lộc là biểu tượng cho hạnh phúc lớn của đời người. Có tài lộc dồi dào, may mắn tốt lành, hạnh phúc viên mãn. Dân ta có tục lệ đi hái Lộc vào ngày đầu năm với mong muốn đem những lộc non về nhà như một hy vọng may mắn tài lộc sẽ đến với gia đình trong năm mới.

    Theo một khía cạnh khác thì tài lộc cũng giống như những chồi lộc non của mùa xuân. Khi mùa xuân tới , cây cối đâm chồi nảy lộc đua nhau mọc lên mơn mởn. Những lộc non chính là thành quả của sự cố gắng, của sức sống mãnh liệt chịu đựng những ngày đông giá rét đợi tới thời điểm xuân tới bắt đầu sinh sôi. Lộc như chồi non, như một hàm ý nhắc nhở con người muốn có được kết quả như ý cần có sự cố gắng, nỗ lực không ngừng nghỉ, vượt qua thử thách, khó khăn mới có ngày nhận thành quả.

    5. Ý nghĩa của chữ Lộc trong thư Pháp

    Chữ Lộc thư pháp được viết theo chữ Quốc Ngữ

    Chữ Lộc thư pháp là cách thể hiện , cách viết nghệ thuật, đường nét hoạt tiết mang ý nghĩa tốt đẹp.

    Những bức tranh chữ Lộc thư pháp được các nghệ nhân thể hiện sống động trên nhiều chất liệu khác nhau. Mỗi bức tranh được tạo ra từ tâm tư, tình cảm, ý nghĩa tốt đẹp mà người nghệ nhân muốn truyền tải.

    Chữ Lộc thư pháp được chia làm 2 loại là chữ Hán và chữ Quốc Ngữ. Tại Việt Nam, do ít người biết chữ Hàn nên thường sử dụng chữ Quốc Ngữ. Chỉ có thú chơi chữ thư pháp thì mới có những nét ngang, nét dọc, nét sổ…. uốn lượn, bay bổng thể hiện được cốt cách, khí chất của người nghệ nhân cũng như khẳng định được vị trí của người sở hữu.

    6. Chữ Lộc nên treo ở đâu trong nhà

    Theo quan niệm trong phong thủy thì chữ Lộc nên treo ở phòng khách. Bởi phòng khách là nơi hội tụ của rất nhiều nguồn năng lượng, luồng vượng khí, tài lộc của gia đình. Phòng khách cũng là nơi tiếp khách, hàn huyên nói chuyện và là không gian sinh hoạt chung của gia đình. Đôi khi phòng khách còn là đại diện được ví như bộ mặt của gia chủ, thể hiện cuộc sống của gia đình.

    Chữ Lộc cần được treo tại vị trí thoáng đãng, không bị che lấp, có đủ ánh sáng trong phòng khách, tránh treo tranh ở những vị trí ẩm mốc, bong tróc.

    Nên treo chữ Lộc theo hướng cùng hướng với ngôi nhà , hướng cửa chính của phòng khách là tốt nhất, đây được xem là vị trí đắc địa, thu hút vượng khí.

    7. Các sản phẩm về chữ Lộc thư pháp

    Tranh gỗ chữ Lộc thư pháp

     

    Tranh gỗ chữ Lộc thư pháp 

    Tranh gỗ chữ Lộc thư pháp được điêu khắc tỉ mỉ, công phu, có vẻ đẹp sang trọng, bóng mượt. Tranh mang vẻ đẹp tự nhiên của gỗ , mùi hương của gỗ . Treo tranh chữ Lộc bằng gỗ trong nhà để cầu tài, cầu lộc, mong muốn một cuộc sống sung túc đủ đầy, tài lộc sinh sôi không ngừng.

    Tranh gỗ chữ Lộc thư pháp rất thích hợp treo tại phòng khách hoặc phòng làm việc. Là món quà vô cùng ý nghĩa dành tặng cho nhau nhân dịp đặc biệt nào đó. Treo tranh gỗ chữ Lộc tại phòng khách sẽ mang lại bình an, phú quý, tài lộc cho gia đình. Khi treo tranh gỗ chữ Lộc tại phòng làm việc sẽ mang lại may mắn, thuận lợi cho công việc.

    Chữ Lộc thư pháp khắc trên dưa hấu trong ngày Tết

    Chữ Lộc thư pháp khắc trên dưa hấu

    Những năm gần đây, trưng bày dưa hấu có khắc chữ Lộc thư pháp trên bàn thờ tổ tiên ngày Tết đã trở thành một xu hướng được nhiều người yêu thích. Những quả dưa hấu xanh to, được khắc tỉ mỉ chữ Lộc thư pháp như một mong muốn năm mới tài lộc dồi dào, cuộc sống nhiều may mắn, đủ đầy, công việc luôn suôn sẻ, hạnh phúc ngọt ngào như chính vị ngọt của quả dưa hấu vậy.

    Tóm lại: trong văn hóa truyền thống của người Việt nam thì chữ Lộc như một nhu cầu hạnh phúc tất yếu, một điều đặc biệt quan trọng. Bởi thế mà việc trang trí trưng bày một bức tranh chữ Lộc trong nhà không chỉ góp phần làm không gian thêm sinh động mà còn tạo ra nhiều phúc khi tốt lành trong cuộc sống, nhờ đó mà con người tin rằng sẽ gặp được nhiều may mắn thuận lợi trong cuộc sống.

    Chữ Phúc được các nghệ nhân chế tác thành các tác phẩm nghệ thuật ý nghĩa, trong đó có dòng tranh gỗ thư pháp chữ Phúc được rất nhiều người ưa chuộng và tìm mua. Nếu bạn có nhu cầu tìm mua một bức tranh gỗ chữ Phúc thư pháp có thể truy cập vào website: chúng tôi  để xem mẫu, hoặc gọi tới số hotline : 0973714792 để được tư vấn trực tiếp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách “Thọ Mai Gia Lễ” Miền Nam
  • Viết Triệu – Văn Tế Trong Đám Tang
  • Cách Viết Chữ Hán Và Dấu Câu Trong Giấy Kẻ Ô
  • Cách Cài Đặt Bộ Gõ Tiếng Trung Trong Điện Thoại Ip
  • Điệp Thức Của Chữ Giác
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100