Cách Viết Chữ Hán Cổ / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Ezlearning.edu.vn

Tản Mạn Kinh Nghiệm Học Chữ Hán Cổ

--- Bài mới hơn ---

  • Tự Học 500 Chữ Hán Cơ Bản
  • Học Chữ Hán Thông Qua Chiết Tự
  • 3000 Từ Hán Việt Cần Ghi Nhớ
  • Chữ Hán Của Người Việt – Vũ Tuấn Sán
  • Cách Bật Dịch Ngôn Ngữ Trên Facebook Siêu Đơn Giản
  • Trước hết, để nói cho người chưa nhập môn, chúng ta nên phân biệt Hán cổ và Hán hiện đại, mà người ta còn gọi là Văn ngôn và Bạch thoại. Đây là hai thể văn của người Trung Quốc, trong đó Bạch thoại còn gọi Ngữ thể là thể văn viết theo tiếng nói thực tế ngoài xã hội, còn Văn ngôn hay Cổ văn (hay Hán cổ) là loại bút ngữ chỉ dùng trong việc biên chép hoặc trứ thuật thời trước. Ngày nay, Văn ngôn đã trở thành một tử ngữ chỉ dùng cho việc nghiên cứu văn hóa lịch sử của các triều đại, mà người Trung Quốc nếu không được dạy thêm cũng không thể viết hoặc đọc hiểu. Do vậy, ngay tại đất nguồn, người Trung Quốc cũng phải học cổ văn gần giống như học một ngoại ngữ, hoặc như người Việt học Hán cổ (chỉ khác về cách phát âm), mới có thể tiếp cận-thưởng thức được các công trình của tổ tiên họ. Rất nhiều sách dạy cổ văn từ bậc tiểu học đến bậc đại học đã được xuất bản, phổ biến tại Trung Quốc (kể cả lãnh thổ Đài Loan). Hầu hết các sách Hán cổ của họ đều đã được dịch ra và chú giải bằng Bạch thoại (Hán ngữ hiện đại), gọi là “ngôn văn đối chiếu”, hoặc “dịch chú”, “đối dịch”, “thông dịch”, “tân dịch” (bản dịch mới)…, giúp thế hệ con cháu đọc hiểu được tư tưởng của tiền nhân trong các sách cổ Thi kinh, Luận ngữ, Lão Tử, Trang Tử, Cổ văn quan chỉ, Đường thi tam bách thủ, Tam tự kinh, Thiên tự văn… Cũng nhờ vậy mà người Việt Nam chúng ta ngày nay cũng dùng “ké” vào được, điều đó có nghĩa một người thông thạo Trung văn (Hán ngữ hiện đại) mà chưa rành cổ văn cũng có thể tham khảo đọc hiểu được các bản cổ văn đã được chuyển dịch sang Bạch thoại.

    Văn ngôn tương đương với cái mà chúng ta gọi chữ Nho. Ngày xưa các cụ học chữ Nho là để đọc sách thánh hiền chứ không để nói, khi gặp một người Trung Hoa có học vấn, hai bên có thể “bút đàm” với nhau, như trường hợp cụ Phan Bội Châu thời xưa khi qua gặp Lương Khải Siêu (Trung Quốc) hoặc Khuyển Dưỡng Nghị (Nhật Bản) cũng phải giải quyết trở ngại ngôn ngữ bằng kiểu đó. Đây cũng là khía cạnh độc đáo của chữ Hán cổ, một loại chữ viết-văn viết chứ không để nói, mà thứ chữ đó đầu tiên được cấu tạo bằng các lối tượng hình, hội ý…, không ghi lại theo âm thanh của tiếng nói như trong trường hợp chữ Nôm ghi âm đọc tiếng Việt, hoặc các ký tự Latinh ghi âm đọc của chữ Pháp, chữ Quốc ngữ…

    Lại nói về chữ Nôm và Hán Nôm. Chúng ta thường gặp nhiều người đã có trình độ học vấn phổ thông rồi nhưng vẫn chưa phân biệt được chỗ khác nhau giữa chữ Hán với chữ Nôm, và Hán Nôm khác với Hán ngữ nói chung như thế nào. Họ không hiểu rõ chữ Hán là chữ của dân tộc Hán tức người Trung Hoa, được viết bằng những nét “ngoằn ngoèo rối rắm” nhưng trông vào thì có vẻ đẹp hấp dẫn, còn chữ Nôm chính là một loại chữ Việt cổ, mượn nét của chữ Hán và phép cấu tạo hài thanh của nó để ghi thanh âm tiếng Việt, như khi Nguyễn Du làm câu thơ đầu truyện Kiều “Trăm năm trong cõi người ta” thì phải viết toàn chữ Nôm (chữ Việt cổ). Trong khi đó, nếu chữ Hán thì “trăm năm” phải nói “bách niên”, “bách tuế”…, “trong” là “trung”, còn “cõi người ta” là “nhân gian”, “nhân sinh”… chẳng hạn. Câu thơ trên khi Hoàng Dật Cầu (Trung Quốc) chuyển truyện Kiều sang chữ Hán, phải dịch là “nhân sinh bất mãn bách”, là chỉ dịch thoát. Chữ (trăm) trong chữ Nôm được tạo nên bằng chữ (bách) ở trên là trăm để chỉ ý nghĩa, và chữ (lâm) ở dưới để chỉ âm đọc, cũng là một lối chữ hình thanh…, có cách cấu tạo tương tự chữ Hán. Do chữ Nôm cấu tạo bằng những nét và thể thức của chữ Hán nên phải biết chữ Hán kha khá trước rồi mới có thể học qua chữ Nôm được.

    Còn Hán Nôm là gì? Hán Nôm thường để gọi gộp chung chữ Hán và chữ Nôm, đồng thời cũng chỉ vào những thư tịch cổ của người Việt Nam viết bằng chữ Hán, như các sách Khâm định Việt sử (Quốc sử quán triều Nguyễn), Hải Thượng y tông tâm lĩnh (Lê Hữu Trác), Hoạt nhân toát yếu (Hoàng Đôn Hòa), Hoàng Việt văn tuyển (Bùi Huy Bích), Thượng Sĩ ngữ lục, Thiền uyển tập anh ngữ lục (đời Trần),… hoặc những truyện Nôm, thơ Nôm, văn cúng viết bằng chữ Nôm…, đều là nằm chung trong kho tàng Hán Nôm của người Việt. Về mặt từ vựng và ngữ pháp, khi người Việt xưa sử dụng chữ Hán (mượn của Tàu) để diễn đạt những vấn đề và sự vật của nước mình, đã phải sáng tạo ra một số từ ngữ mà Trung Quốc không có, như nói “ngưu lao” là trâu bò, “cao” là sào (đơn vị đo ruộng), “tượng phường binh” là lính giữ voi, “kiên thán” là than đá, “nam trân” là trái loòng boong…, đều là những từ ngữ không tìm thấy trong bất kỳ từ điển nào của người Trung Quốc. Một số từ Hán Việt hiện đại như “hoa hậu”, “hải phận”… cũng không có trong kho từ vựng của Trung Quốc. Về ngữ pháp, một số hư từ đã được dùng riêng theo lối Việt Nam như “hồ nhi” là (sao mà), “tồn như” (còn như)… cũng không thấy trong tiếng Hán chính thức của người Hán.

    Còn về ngữ âm, thì người Trung Quốc đọc chữ Hán theo âm của họ (khác nhau tùy theo địa phương), người Việt đọc theo âm Hán Việt, như hai chữ (trời đất) đọc theo âm Quảng Đông là “thín tì”, theo âm Bắc Kinh là “thí-ến tí”, đọc theo âm Hán Việt là “thiên địa”; chữ (ba) âm Quảng Đông đọc “xám”, âm Bắc Kinh đọc “sán”, âm Hán Việt đọc “tam”… Như vậy dù đọc theo âm nào, ở đâu, ai biết chữ nhìn vào chữ (tam) cũng biết ý nghĩa nó là “ba” (số lớn hơn 2, nhỏ hơn 4).

    Cách đọc Hán Việt thường được hiểu đơn giản là cách đọc chữ Hán ở Việt Nam, bằng lối đọc riêng của người Việt. Theo các nhà nghiên cứu, cách đọc này bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời Đường, cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ VIII-IX, nhưng dần dần có sự biến đổi theo quy luật ngữ âm tiếng Việt để trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt… (xem Nguyễn Tài Cẩn, Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1979, tr. 14-15).

    Như trên đã nói, chữ Hán cổ hoàn toàn có thể tự học được, mặc dù nếu có thầy dạy thì vẫn tốt hơn. Theo sự hiểu biết của tôi thì một số cụ tiền bối giỏi Hán cổ như Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Nguyễn Hiến Lê, Phạm Tất Đắc, Phùng Tất Đắc (Lãng Nhân)…đều là những người chủ yếu tự học. Thế hệ bây giờ vẫn tiếp nối có những dịch giả tương đối trẻ với nhiều công trình nghiên cứu-dịch thuật khá giá trị như Lý Việt Dũng, An Chi (Võ Thiện Hoa), Nguyễn Tôn Nhan, Lê Anh Minh…, đều do tự học mà đạt được những thành tích rất đáng trân trọng.

    Trong khoảng 50-60 năm trở lại đây, khi Hán học suy tàn, sách tự học chữ Hán trái lại được xuất bản lần lượt khá nhiều, như một cách để cứu vãn tình thế, còn trước đó nữa thì hầu như không có sách tự học. Truy lại khoảng những năm 40 của thế kỷ trước, chúng ta được biết, ngoài những cuốn như Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Minh tâm bảo giám… được một số dịch giả (có lẽ Trương Vĩnh Ký là đầu tiên) đem ra phiên âm, dịch nghĩa, còn thì loe hoe chỉ có mấy cuốn đáng gọi “tự học” như Hán tự tự học của Nguyễn Xuân Lâm (1942), Hán học tiệp kính và Hán văn quy tắc của Nguyễn Di Luân-Trần Quốc Trinh (cuốn sau, thư viện chùa Huệ Quang mới sưu tầm được), Hán văn tự học (sau đổi thành Nho văn giáo khoa toàn thư) của Nguyễn Văn Ba, Hán tự tân phương của Tạ Quang Phát …Để bổ sung, người tự học đôi khi phải tìm thêm những sách dạy, nhất là về ngữ pháp, của một số tác giả người Pháp như Cordier, Margouliès, Wieger, Ramusat… nhưng phần lớn những sách này đều biên soạn rất sơ sài. Tại miền Nam trước năm 1975, còn có nhiều sách tự học chữ Hán của một số tác giả khác như Võ Như Nguyện-Võ Hồng Giao, Lưu Khôn, Nguyễn Khuê, Trần Trọng San, Trần Văn Quế, Huỳnh Minh Đức, Đào Mộng Nam…, mỗi cuốn đều có ưu khuyết điểm riêng và cuốn nào dùng cũng lợi ích, nhưng riêng tôi thích nhất bộ Hán văn của Trần Trọng San (NXB Thành Phố Hồ Chí Minh có tái bản lần I năm 1996), chủ yếu lấy các bài khóa từ bộ Tân quốc văn của Trung Quốc làm giáo trình, nhưng biên soạn cẩn thận, trình bày sáng sủa ngắn gọn mà có phương pháp, lại có thêm phần văn phạm (ngữ pháp) và văn tuyển. Học hết quyển đó có thể bắt đầu đọc gần hiểu được những sách thông thường viết bằng cổ văn, với điều kiện là phải chịu khó tra thêm những chữ khó chưa biết.

    Trong suốt thời gian 50-70 mươi năm, góp thêm vào việc tự học chữ Hán cổ, phải kể đến hai bộ tự-từ điển gồm Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (1931) và Hán Việt tự điển của Thiều Chửu (1942). Hai bộ này tuy còn không ít khuyết điểm nhưng đều có công rất lớn cho việc tự học chữ Hán của người Việt Nam trong suốt mấy mươi năm dài. Riêng cuốn của Thiều Chửu, nhờ có số tự nhiều hơn và chứa đựng nhiều từ ngữ Phật giáo nên được các nhà sư dùng nhiều, đến nay vẫn còn hữu dụng và được biên tập lại cho hợp lý hơn để tái bản nhiều lần.

    Nói “Hán học suy tàn”, nhưng càng về sau, sách dạy chữ Hán cả cổ lẫn hiện đại đều xuất hiện mỗi ngày một thêm nhiều, hoặc soạn mới, hoặc được tái bản từ những sách cũ trước đây. Riêng sách tự học Hán cổ, có những sách như Giáo trình Hán văn của Chu Thiên (do nhóm biên tập Bùi Xuân Trường-Lạc Thiện-Nguyễn Thịnh thực hiện, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 2002), Toàn thư tự học chữ Hán của Trần Văn Chánh-Lê Anh Minh…; cuốn sau này nhờ biên soạn sau nên gom góp tham khảo được một số ưu điểm của những người đi trước và hiện cũng đang được dùng khá phổ biến. Về ngữ pháp, có những sách của Phạm Tất Đắc, Trần Văn Chánh, và một cuốn gọn hơn, Ngữ pháp Hán văn của nhà sư Thích Tuệ Dũng dùng thích hợp cho các tu sĩ Phật giáo. Về hư từ, có những sách của Trần Thước, Trần Văn Chánh… Riêng về từ điển Hán Việt (không kể của Đào Duy Anh và Thiều Chửu) thì có khá nhiều, người học có thể tự chọn một quyển nào thích hợp cho hoàn cảnh mua sắm và mục đích học tập của mình.

    Ai biết tiếng Anh, có thể tìm thêm mấy cuốn sau đây, biên soạn rất tốt:

    – J. Brandt, Introduction to Literary Chinese, Ederick Ungar Publishing Company, New York.

    – Harold Shadick, A First Course in Literary Chinese, Cornell University Press, Ithaca and London, 1992.

    – Gregory Chiang, Language of the Dragon, Cheng and Tsui Company, USA, 1998.

    Chuyên về ngữ pháp Hán cổ, nếu có điều kiện, có thể tìm cuốn Outline of Classical Chinese Grammar của Edwin G. Pulleyblank, do UBC Press / Vancouver in năm 2000.

    Như vậy tính ra, với điều kiện mới bây giờ, người tự học chữ Hán có được thuận lợi hơn những lớp người đi trước đến cả chục lần, ấy là còn chưa kể đến những phương tiện hiện đại (nhất là các sách công cụ, từ điển lớn nhỏ, từ điển chuyên dùng đủ loại…) mà chúng ta có thể truy cập bất cứ giờ phút nào trên mạng internet.

    (Thầy đồ. Nguồn: http://www.vienngonnguhoc.gov.vn)

    Ở giai đoạn này, bạn có thể đọc vài tiểu thuyết chủ yếu viết bằng Văn ngôn như Tam Quốc chí, Thủy hử, Đông Chu liệt quốc chí…(bán rất nhiều ở mấy hiệu sách tiếng Hoa với giá rẻ lắm) để vừa thưởng thức, vừa tự rèn luyện thêm khả năng đọc hiểu Hán cổ. Cụ Nguyễn Hiến Lê khi tự học chữ Hán đến giai đoạn này, đã ghi lại cảm tưởng của mình trong quyển Tự học một nhu cầu thời đại: “Trước bạn học thấy khó nhọc bao nhiêu, thì bây giờ bạn thấy thú bấy nhiêu. Công của bạn đã được đền bù. Không bao giờ tôi quên được những phút say mê, khi mới biết lõm bõm ít chữ Nho, tôi đọc lời bình phẩm Tam Quốc chí của Thánh Thán: Trời thì rét căm, ngọn đèn thì lù mù mà tới 11 giờ khuya tôi vẫn còn ngồi trước cuốn sách. Tôi tưởng ai học chữ Hán cũng được phần thưởng vô giá ấy” (NXB Thanh Tân, Sài Gòn, 1967, tr. 133-134).

    Ngoài ra trong nhà cũng nên có sẵn một số bản dịch tiếng Việt các tác phẩm kinh điển, để vừa đọc vừa học, như Thi kinh (các bản dịch của Tản Đà, Tạ Quang Phát, Nguyễn Thị Hảo…), Luận ngữ (các bản dịch của Đoàn Trung Còn, Lê Phục Thiện, Nguyễn Hiến Lê…), Đại học (các bản dịch của Đoàn Trung Còn, Tạ Thanh Bạch …), Trung dung (các bản dịch của Đoàn Trung Còn, Phan Khoang, Tạ Thanh Bạch…), Mạnh Tử (của Nguyễn Đôn Phục-Nguyễn Hữu Tiến…), Lão Tử (các bản dịch của Nghiêm Toản, Nguyễn Duy Cần, Phan Ngọc…), Đường thi (các bản dịch của Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Lê Nguyễn Lưu…), Cổ văn (tức Cổ văn quan chỉ, các bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Khôi…), Sử ký Tư Mã Thiên (các bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, Nhữ Thành…). Một số loại sách đặc biệt khó đọc như Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp… thì người đọc nhất thiết phải tham khảo bản dịch sang Bạch thoại của Trung Quốc hoặc sang tiếng Việt (như của Nguyễn Thị Hảo), mới có thể hiểu được, vì đối với loại sách này, các học giả phần lớn phải khảo từng câu từng chữ để khám phá các ý nghĩa, chứ không ai đọc ron rót được.

    Ở Trung Quốc, có khá nhiều sách công cụ để tra cứu riêng cho từng thể loại văn cổ, như có những sách tra riêng cho tiểu thuyết, thơ Đường, nhân danh, địa danh… Tự điển, từ điển Hán cổ phổ thông thì nên có ít nhất 3 bộ, trước đây thông dụng là Khang Hi tự điển, Từ nguyên, Từ hải, còn bây giờ có thể chỉ cần Hán ngữ đại tự điển, Hán ngữ đại từ điển và một bộ Từ hải là đủ. Bộ sau cùng vừa có tính ngôn ngữ vừa có tính bách khoa, còn hai quyển đầu tính cho đến hôm nay vẫn là công trình từ thư quốc gia lớn nhất của người Trung Quốc, nhưng nếu chưa có nhu cầu gì lớn, có thể chỉ cần mua bản rút gọn hay bản phổ cập (“súc ấn bản”, “phổ cập bản”) cho rẻ (cách nay mấy năm, giá ở các hiệu sách chừng 500-600 ngàn).

    Muốn đọc được chữ Hán theo lối phiên thiết, nên có bộ Khang Hi hoặc Từ hải bản in cũ (vì ấn bản mới, phần chú âm phiên thiết đã bị loại bỏ), nhưng nếu có cơ hội, nên tìm bộ Vương Lực Cổ Hán ngữ tự điển (Trung Hoa Thư Cục, 2000), trong đó phần chú âm phiên thiết rất rõ ràng mạch lạc. Về Hán ngữ cận đại, tức những từ ngữ xuất hiện từ khoảng Đường, Tống trở về sau, nên tham khảo quyển Cận đại Hán ngữ Từ điển của Tri Thức Xuất Bản Xã in năm 1992, hơi khó tìm, nhưng tôi được biết tại thư viện Tu viện Huệ Quang hiện có giữ được bản photo.

    Nên nhớ, mỗi loại sách đều có đặc điểm ngôn ngữ và phong cách diễn đạt riêng, ai “chuyên trị” lĩnh vực nào thì chỉ quen đọc hiểu sành hơn trong lĩnh vực đó. Về Hán cổ mà thuộc Hán Nôm, nên tìm cho được bộ Cơ sở ngữ văn Hán Nôm do Lê Trí Viễn chủ biên, gồm 4 tập (NXB Giáo Dục, 1984-1987), trong đó riêng tập 4 có giới thiệu một số thể loại Hán văn đặc thù như Văn bia, Thần tích, Sắc, Luật lệ, Bằng, Trát, Bẩm, Biên từ, Đơn, Văn tự, Chúc thư, Gia phả, Văn cúng…của Việt Nam, mà nếu chỉ học cổ văn thông thường thì chúng ta không thể đọc hiểu chúng một cách chính xác.

    Đến đây, chúng ta vẫn chưa trả lời hai câu hỏi học chữ Hán dễ hay khó, học chừng bao lâu… là những câu hỏi mà bất kỳ ai đang có ý định học cũng nôn nóng muốn biết.

    Tác giả Nguyễn Hiến Lê còn nêu thêm kinh nghiệm dùng thẻ để học chữ Hán, mỗi thẻ dùng cho một chữ, như học về chữ (mai) thì ghi trên thẻ: và số nét: 11; tên bộ và số nét: 4; cách đọc; những nghĩa của nó; những từ ngữ có chữ “mai”; những nhận xét riêng về chữ ấy, chẳng hạn nên phân biệt nó với chữ, vì cả hai đều có bộ phận chữ (mỗi) ở bên… Khi học được 3.000-4.000 chữ sẽ có được 3.000-4.000 thẻ, nếu sắp lại theo bộ sẽ có một bộ từ điển để dùng riêng, rất thích thú vì đó là kết quả công phu của chính mình…

    – Chịu khó 1 ngày học 1 bài trong giáo trình, học cả văn phạm, từ vựng…chịu khó tìm tòi từ nguyên, tại sao nó có nghĩa như vậy, sẽ nhớ được lâu. Học được khoảng 3000 từ thì chịu khó đọc sách tiếng Hoa mỏng mỏng, rồi từ từ dầy lên theo số vốn từ mình học được.

    – Chuyện nhớ chữ à? Vào trang từ nguyên của Richard Sears, cũng có giải nghĩa nhiều chữ. Cứ kiên nhẫn mỗi ngày mỗi học sẽ dễ. Giống như dậy sớm tập thể dục. Dậy được đã khó. Tập mấy ngày đầu thì rêm mình nhức mẩy. Nhưng theo chừng một hai tháng thì quen.

    – Học như thế nào thì hiệu quả, điều đó cũng tùy thuộc vào năng khiếu và điều kiện của từng người: (1) Khuynh hướng của từng người: mỗi nguời có cách nhớ khác nhau, người thì nhìn và viết hoài sẽ nhớ; người thì phải phân tích tới cội nguồn mới nhớ; có người thích ghi nhớ qua âm thanh, phát âm đi chung với từ thì sẽ nhớ; (2) Hoàn cảnh: có người có nhân duyên tốt, gặp được thầy giỏi sách hay, có tiền mua tài liệu hoặc có thời gian rảnh rỗi đi học, có người thì phải mầy mò tự học thiếu những tài liệu hay, không người chỉ dẫn nên bỏ rất nhiều thời gian mà kết quả không cao. Do vậy, phải biết được mình để xác định phương thức hiệu quả nhất.

    – Nên học căn bản trước, nắm được sơ sơ về các nguyên tắc của chữ Hán rồi thì cứ ôm Thiều Chửu mà tụng. Có ba điều lưu ý thế này: (1) Không nên học thuộc hết 214 bộ. Học ngoại ngữ nhưng đừng bao giờ có tư tưởng phải học thuộc cái gì. Ngôn ngữ là phải tự nó ngấm vào mình qua quá trình cọ xát, tiếp xúc chứ ép vào đầu nhanh thì nó cũng ra khỏi đầu nhanh. Cụ thể ở đây, chỉ cần nắm được vài chục bộ thủ thường gặp để tra từ điển là đã bao quát được gần hết các chữ cơ bản rồi; (2) Cách tụng Thiều Chửu là chữ nào tiếng Việt mình còn dùng thì học trước. Chính những chữ đó về nghĩa mình cũng đã hiểu sơ sơ rồi, không cần câu nệ từ nguyên nhiều quá. Nên học từ các tác phẩm, tốt nhất là các tác phẩm văn học quen thuộc cho dễ nhớ. Tuy vậy, với đặc thù chữ Hán, nên nắm được nghĩa riêng lẻ và trong tương quan với các chữ khác; (3)

    Không học theo một giáo trình nào cả mà cứ thấy chữ Hán ở đâu thì mổ xẻ bằng từ điển. Dù sao nó cũng là một tử ngữ rồi, không thể giữ cách học như một sinh ngữ với các bài text khi mà khó có thể gặp lại trong cuộc sống. Chính các câu đối, hoành phi, thơ ca ta gặp mới là giáo trình sinh động và hiệu quả nhất.

    – Phương pháp phân tích ngữ pháp Hán cổ bằng ký hiệu của Thích Minh Thanh (giảng viên môn Hán cổ tại HVPGVN tại TP-HCM soạn) rất khoa học và dễ hiểu cho người học, quen rồi khi nhìn vào sẽ hiểu không cần phải dùng ký hiệu nữa.

    – Thời gian học dài: Người học chữ Trung Quốc phải có nhiều (hai ba) năm mới nhớ được mặt chữ của ba bốn ngàn từ thường dùng; nếu dùng lối tượng thanh thì nhanh và đơn giản hơn; chữ viết phức tạp, nhiều nét: có những chữ trên hai mươi lăm nét. Cái lợi của chữ Trung Hoa cũng hiển nhiên: khi nhớ mặt chữ của một từ thì người học rất khó quên được ý nghĩa của nó, chẳng hạn chữ an gồm nữ (đàn bà) ở dưới miên (mái nhà) nên có nghĩa là an (an ổn), hoặc chữ minh gồm nhật (mặt trời) và nguyệt (mặt trăng) nên có nghĩa là sáng. Như vậy mỗi từ của Trung Hoa có tính chất sống động hơn từ của phương Tây và vì vậy đọc một bài thơ Trung Hoa viết bằng chữ Hán thì cảm thấy có ý nghĩa hơn, thú vị hơn khi đọc cũng bài thơ đó phiên âm ra chữ quốc ngữ.

    Đối với những người chưa biết nhiều về chữ Hán, thì thường có một quan niệm sai lầm là họ cứ tưởng chữ Hán rất khó học. Thật ra không hoàn toàn đúng, nếu so sánh với việc học tiếng Anh, thì chữ Hán dễ học hơn. Lý do thật đơn giản vì người học chữ Hán chỉ cần nhớ được 3 ngàn chữ đơn là có thể đọc viết được các loại sách báo & tạp chí, trong khi người học chữ Anh phải cần phải nhớ đến hơn con số đó nhiều…

    – Đọc các văn bản Hán cổ (Văn ngôn) của Tàu như kinh Thư, Luận ngữ, Sở từ …, nên tìm đọc các bản dịch Bạch thoại của chúng trước khi đọc chính văn thì sẽ dễ hiểu hơn (vì hầu hết các văn bản Hán cổ của Tàu đều đã được họ chú thích và dịch sang thể Bạch thoại). Còn về ngữ pháp Văn ngôn, chỉ cần nắm vững bốn hư từ Chi Hồ Giả Dã là đủ xài rồi. Nắm vững chúng ta sẽ phân tích được câu, mà đã phân tích được câu thì sẽ hiểu được văn bản, còn mức độ hiểu nhiều hay ít lại còn tùy thuộc vào kiến thức nền của mình!

    – Học chữ Hán, ngoại trừ việc chuyên cần, chăm chú viết lách, còn phải cố gắng trau dồi những kiến thức liên ngành như lịch sử, văn học, địa lý, ngoại ngữ, văn hóa-tư tưởng… Bởi tiếng Hán, chữ Hán chỉ là công cụ để từ đó ta hiểu hơn về ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc và rộng ra là cả thể giới! Vậy, học chữ Hán cổ nâng cao cũng không thể bỏ qua yếu tố văn hóa Trung Quốc và điển tích Trung Hoa…

    Càng đọc (chứ chưa phải học) càng thấy có sự lôi cuốn, tôi mới “liều mạng” tự biên soạn một tập ngữ pháp Hán văn ghi chép tay đầy trên 4 cuốn sổ bìa đen, cộng lại dày chừng 800 trang giấy carô khổ lớn. Cùng khoảng thời gian này, ngày nào tôi cũng vào Thư viện Quốc gia Sài Gòn (bây giờ là Thư viện Tổng hợp TP. HCM) và Thư viện Viện khảo cổ (bây giờ là Thư viện KHXH TP. HCM) ghi chép các tài tiệu chữ Hán và chữ Pháp, biên soạn được một quyển lấy tên Lịch sử tiểu thuyết Trung Hoa, được một nhà xuất bản nhận in nhưng sau đó vì thời cuộc mà nhà xuất bản phải dẹp và mất luôn bản thảo. Riêng bản thảo về ngữ pháp mãi đến hơn 10 năm sau mới được chỉnh lý lại để xuất bản thành cuốn Sơ lược Ngữ pháp Hán văn (NXB TP. HCM), là một trong những sách ngữ pháp Hán cổ còn rất hiếm hoi ở Việt Nam trong những năm 80 của thế kỷ trước. Trước đó một thời gian, do phải sống trong một tình trạng gần như thất nghiệp, tôi rị mọ dịch đại quyển Lão Tàn du ký của Lưu Ngạc (1850-1910), một trong bốn bộ “khiển trách tiểu thuyết” tức tiểu thuyết hiện thực phê phán nổi tiếng của Trung Quốc (giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20), với trong tay chỉ có vỏn vẹn hai quyển từ điển của Đào Duy Anh và của Thiều Chửu (và dường như còn có thêm bộ Từ vị của Đài Loan xuất bản nữa, và một bản dịch tiếng Pháp của nhà Gallimard xuất bản dưới sự bảo trợ của UNESCO). Đến năm 1989 thì sách này mới được xuất bản.

    Tôi tự xét không phải thuộc hạng người thông minh hoặc có ý chí sắt đá. Còn nói kinh nghiệm, thật ra cũng chẳng có hệ thống kinh nghiệm nào cho ra hồn cả, mà dường như chính sự đam mê, từ đó hứng thú, đã dẫn dắt người ta tự tìm lấy con đường học tập thích hợp cho chính mình. Đã có hứng thú thì không còn biết nệ nhọc mệt tìm tòi cho dù thức khuya dậy sớm, từ đó luôn tay tra cứu , “thủ bất thích quyển” (tay không rời sách), dần dần thâm nhập, thông qua một quá trình khổ học mà không cảm thấy khổ, công phu mà không thấy bỏ sức công phu, để đạt được những kỹ năng mong muốn lúc nào không hay. Vả chăng, kinh nghiệm nếu thật là kinh nghiệm thì cũng khó trao truyền, như câu chuyện “Đọc sách cổ” kể trong Cổ học tinh hoa (của Nguyễn Văn Ngọc-Trần Lê Nhân), với lời bình của dịch giả: “… Cái hay nhiều khi miệng không thể nói ra được, bút không thể tả hết được… Những kẻ hay mượn bã giả của cổ nhân để buông ra những học thuyết dông dài làm ra sách vở để dạy đời, ta tưởng cũng lầm lắm”.

    (Chữ Hán được viết trên thẻ tre. Nguồn: http://www.forum.thuhoavn.com)

    Nói chung không nên tin có một bí quyết hay “bí kíp” thần thông nào cả. Chỉ có thể khẳng định một kinh nghiệm đúng cho hầu hết mọi người, đó là học bất kỳ môn gì cũng nên bắt đầu từ lúc còn trẻ, còn có tinh thần hăng hái. Đợi đến từ quá bốn mươi trở lên nhiệt huyết không còn, trí nhớ cũng suy kém đi nhiều, một chữ tra từ điển đôi khi đến hơn mười lần vẫn không nhớ được!

    Nói về thời gian cần dành ra, cũng như mức độ thành tựu và những cảnh giới có thể đạt được trong việc học chữ Hán thì nó cũng mênh mông lắm. Học để đọc được sách báo phổ thông hoặc vài đoạn kinh Phật thông thường thì có khác hơn học với trình độ thâm cứu, dịch thuật, trứ tác nghiêm túc.

    Nghe kể, có một dịch giả chuyên dịch tiếng Nga, sau tiếng Nga ít dùng, chuyển qua tự học chữ Hán chỉ trong vòng vài tháng, đã dịch được đến một, hai chục tác phẩm chữ Hán. Đó là một sự thật đáng nể. Dịch giả đó hiện nay đã quá cố, chúng ta không hỏi nhưng đoán chắc ông là người thông minh, và học theo cách vừa làm vừa học mới mau được như vậy. Để đạt được những công trình có chất lượng đi vào chiều sâu với những đề tài khó khăn hơn, chắc phải mất thời gian nhiều hơn. Cách nay mấy năm, báo chí phấn khởi đưa tin, nhờ sự hỗ trợ của công cụ máy vi tính, người ta có thể dịch trọn bộ Đại tạng kinh từ Hán ra Việt chỉ mất khoảng 24 tiếng đồng hồ, nhưng thật ra đây chỉ là một ảo tưởng phát sinh trong lúc vội vội vàng vàng quá tin tưởng vào sự thần diệu của máy móc. Bởi cứ cho như máy tính lập trình sẵn có thể giúp ta được một phần bằng cách dịch từng chữ Hán này ra từng chữ Việt kia, thì công tác biên tập lại cho tròn vành rõ nghĩa sao cho vừa dễ hiểu vừa có ý vị văn chương cũng phải mất thời gian thậm chí còn lâu hơn cả lối dịch thủ công cổ truyền nữa, trừ khi máy tính có thể làm thay con người tất cả mọi thứ.

    Óc thực dụng đôi khi tốt nhưng không phải lúc nào cũng tốt cho việc học tập chữ Hán cổ. Bởi vì, ngay trong các kinh sách Hán cổ, nhất là kinh Phật, dường như đã chứa đựng sẵn sự phê phán óc thực dụng đó rồi. Trong việc học chữ Hán cổ, cần thực học không cần hư danh, bởi nếu chỉ chuyên chủ chạy theo hư danh, hoặc quyền lợi đơn thuần vật chất, rất khó đạt được kết quả mỹ mãn, vì tinh thần thiếu sự chuyên nhất, tập trung. Nhưng như vậy cũng có một nghĩa khác có lẽ phải tạm chấp nhận, là bằng con đường học chữ Hán cổ và chữ Nôm, ít ai có thể làm giàu lên được! Nếu chọn được một công việc vừa hợp sở thích vừa tạm đủ ăn qua ngày, như thế đã là may mắn và hạnh phúc lắm rồi. Còn đối với một số nhà sư dịch kinh Phật, thì tính bất vụ lợi lại càng rõ hơn, chỉ cần ăn chay niệm Phật mỗi ngày, các thầy vẫn có thể hoan hỉ làm việc hăng hái được.

    Các nhà nghiên cứu ghi nhận chữ Hán có đến khoảng 85.000 đơn tự nhưng số lượng thực tế sử dụng chỉ nằm trong khoảng từ 6.000 đến trên 12.000. Nếu không tính những chữ thuộc loại chuyên dùng thì số chữ được dùng chỉ vào khoảng 6-7 ngàn, như vậy nếu siêng học liên tục chừng 2 năm có thể nhớ được. Tuy nhiên bể học thì mênh mông, nhiều khi để đọc được một đoạn Hán cổ, người ta phải “khảo” từng chữ chứ không thể đọc như đọc sách báo thông thường được, và kinh nghiệm thực tế cho thấy lắm khi chỉ một chữ nào đó trong cùng văn bản nào đó mà nhiều nhà chú giải giảng không giống nhau, các từ điển cũng giải khác nhau, không biết ai trúng ai trật, hễ ai có lý thì tạm được đa số chấp nhận. Nhiều từ ngữ đọc mãi không hiểu mà tra hết các sách vẫn không chỗ nào giúp cho ta giải hoặc được. Chính vì vậy mà đức khiêm tốn trong học vấn có lẽ là một thứ đạo đức đáng được đề cao, trong tinh thần càng học càng thấy mình càng kém, và cái đạo của học vấn, nói theo Mạnh Tử, không phải là thứ gì khác, chẳng qua chỉ là để tìm lại cái tâm chất của mình đã bị đánh mất đi mà thôi, tức có nghĩa không để cho mình vì sự tăng trưởng của tri thức mà trở nên ngã mạn, đến bị vong thân, tha hóa, mình không là mình (Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hĩ). Còn nói theo Lão Tử thì “Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi” (Theo đường học thì mỗi ngày một tăng thêm, theo đường đạo thì mỗi ngày một giảm đi, giảm rồi lại giảm, cho đến lúc chỉ còn số không). Người ta nói, học chữ Nho cũng là học đạo, để khám phá tiền nhân và soi rọi lại chính mình, nhằm cải thiện cuộc sống chủ yếu về phương diện tâm linh chứ không phải vật chất, có phải là những nghĩa như thế này chăng?

    Nguồn: Đặc san Suối Nguồn, số 3 & 4, tháng 1.2012

    http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-hoc-ung-dung/van-hoa-giao-duc-khoa-hoc/2602-tran-van-chanh-tan-man-kinh-nghiem-hoc-chu-han-co.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khắc Bia Mộ Có Ảnh, Bia Mộ Chữ Hán Đẹp Nhất Tại Hà Nội.
  • Chữ Nghĩa Trong Bia Mộ Ở Xứ Quảng
  • Tổng Hợp Các Câu Đối Chữ Hán Hay Trên Bia Mộ Đá Và Lăng Mộ Đá Hiện Nay Mẫu Lăng Mộ Đá Đẹp, Mẫu Mộ Đá Đẹp, Mộ Đá Đẹp Ninh Bình
  • Cách Học Kanji Theo Bộ
  • Nên Chọn Những Loại Bút Nào Để Luyện Viết Chữ Hán Đẹp?
  • Ý Nghĩa Chữ Lộc Trong Tiếng Hán Cổ Xưa

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Chữ Nhẫn Trong Tiếng Hán Và Cuộc Sống Người Việt
  • Chữ Lộc Trong Tiếng Hán
  • Tìm Hiểu Về Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Tranh Chữ Lộc Trong Phong Thủy
  • Cách Nhớ Chữ Trong Tiếng Hán (Phần 1)
  • Viết Chữ Phúc Bằng Tiếng Hán
  • Lộc và quan lộc

    Đồng âm với Lộc còn là con số 6 (người Việt mình gọi là “Lục”). Đây là con số hoạn lộ hanh thông. Tôi thật không hiểu sao người ta hay lùng số 7 số 9 cho bảng xe máy, xe ô tô, cho điện thoại di động… mà lại không quan tâm số 6? Thói quen chăng? Hay là người có chức quyền không có tiền?

    Trong Kinh Dịch thì số 6 ứng với quẻ CÀN nghĩa là Trời. Biểu tượng cỗ xe có 6 con Rồng đang kéo là nói về sự vận hành tự nhiên của Trời. Ai có Lộc Trời ban hẳn nhiên phải có Đức, có Phúc. Của cải tích lũy như Hòa Thân thì đó không phải Trời ban mà là ma quỷ lũng đoạn.

    Trong quốc kỳ của Do Thái có 2 hình tam giác sáu cạnh. Tam giác đứng là biểu hiện của Thánh Thần. Tam giác ngược là bản chất loài người. Ngôi sao 6 cánh này là kết hợp hai bản chất.

    Cần lưu ý chữ LỤC trong cấu tạo của chữ LỘC nhiều lúc người ta viết như vậy để biểu thị con số 6 trong số học.

    Với người xưa, các con số luôn gắn với những ý nghĩa để họ quan tâm và thực thi công việc hanh thông. Chẳng hạn, người xưa thích sự hài hòa và cân bằng, nên số chẵn thường được ưa chuộng hơn là số lẻ. Số 2 đại diện cho hài hòa, số 6 đại diện cho thành công. Khi phát âm số 9 là “cửu”, đại diện cho sự trường tồn, vĩnh cửu. Rõ ràng, số 9 trừu tượng còn số 6 ứng với Lộc nên thực tế, có thể nhìn thấy có thể sờ nắn được!

    Số 6 đặc biệt là số được cho là đem lại may mắn trong kinh doanh. Số may mắn này đặc biệt quan trọng với dân Hồng Kông. Ở thành phố thương mại và công nghiệp này, cạnh tranh giữa các doanh nhân, tiểu thương là rất khốc liệt. Do đó, họ thường chọn những ngày “đẹp” để khai trương cửa hàng hoặc ký hợp đồng. Nếu ngày có số 8, đây được coi là dấu hiệu của sự may mắn. Nếu ngày có số 9, công việc làm ăn sẽ thuận lợi, dài lâu. Nếu ngày có số 6, công việc sẽ thuận lợi, phát Lộc.

    Chắc nhiều người đã đọc tác phẩm Faust là tác phẩm kịch của thi sĩ, nhà soạn kịch, tiểu thuyết gia, nhà khoa học, chính khách, nhà triết học Đức lỗi lạc Johann Wolfgang Goethe (1749-1832). Câu chuyện ký thỏa ước bán linh hồn mình cho quỷ để có quyền lực, tình yêu và trí tuệ của Faust có một ý nghĩa triết học rất sâu sắc cho những ai quá khích tôn sùng số 6 và chữ Lộc bất chính.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Chữ Đức Tiếng Hán
  • Chữ Lộc Tiếng Hán
  • Chữ Đức Và Những Ý Nghĩa Trong Từng Nét Bút
  • Ý Nghĩa Chữ Trung Quốc Nhẫn, Phúc, Lộc, Thọ, Đức, An, Tâm…
  • Chữ Dương, Có 9 Chữ Dương
  • Cách Học Viết Chữ Hán Hiệu Quả Bất Ngờ

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Viết Thư Pháp Chữ Hán Và 3 Lưu Ý Học Viên Cần Biết
  • Thư Pháp Chữ Hán Đẹp ❤️ Nghệ Thuật Chữ Tàu, Chữ Hoa
  • Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Cuộc Sống Hàng Ngày
  • Ý Nghĩa Chữ Đức Lưu Quang Trong Hoành Phi, Cuốn Thư Câu Đối
  • Vú Em Là Bạch Cốt Tinh
  • Nắm được cách viết chữ Hán giúp người học chữ Hán viết chữ hán nhanh hơn. Rút ngắn thời gian tập viết chữ Hán, có một phương pháp viết chữ Hán vừa nhanh vừa đúng.

    Để có một cách học viết chữ Hán hiệu quả và áp dụng hành thạo vào trong quá trình sử dụng tiếng Trung, người học phải nắm được những quy tắc viết chữ Hán.

    Viết từ trên xuống dưới, và từ trái qua phải

    Theo quy tắc viết tiếng Trung, tất cả các chữ phải được viết theo quy tắc từ trên xuống dưới từ trái qua phải. Ví dụ như, chữ nhất được viết là một đường ngang: 一. Chữ nhất gồm một nét duy nhất và viết từ trái qua phải.

    Quy tắc viết chữ này cũng áp dụng khi viết các chữ nhiều nét cho trật tự các thành phần trong chữ đó. Chẳng hạn, chữ 校 được chia thành 2 phần. Phần bên trái là (木) được viết trước so với phần bên phải (交).Trong quy tắc này có một vài trường hợp ngoại lệ, xảy ra khi phần bền phải của một chữ có nét đóng nằm dưới.

    Trong chữ có hai phần: Phần nằm trên và phần nằm dưới thì viết phần nằm trên trước rồi viết phần nằm dưới sau, như trong chữ品 và chữ 星.

    Các nét ngang viết trước, các nét dọc viết sau

    Khi viết chữ tiếng Trung có nét ngang và nét sổ dọc thì sẽ viết nét ngang trước rồi viết nét sổ sau đó. Như chữ thập (十) có 2 nét. Nét ngang一 được viết trước tiên, theo sau mới đến nét sổ dọc 十.

    Nét sổ thẳng và nét xuyên ngang viết sau cùng

    Những nét sổ dọc xuyên qua các nét ngang khác thường được viết ở vị trí cưới cùng sau khi hoàn thành xong tất cả các nét, ví dụ như chữ 聿 và chữ 弗.

    Các nét ngang xuyên qua nhiều nét dọc khác cũng được viết sau cùng, như trong chữ 毋 và chữ 舟.

    Viết các nét xiên trái (nét phẩy) trước, rồi đến các nét xiên phải (nét mác)

    Theo quy tắc. các nét xiên trái (丿) phải được viết trước các nét xiên phải (乀) trong trường hợp hai nét này giao nhau, ví dụ như chữ 文.

    Viết phần ở giữa trước các phần bên ngoài ở các chữ đối xứng về chiều dọc

    Với các chữ đối xưng theo chiều dọc thì quy tắc viết sẽ là viết phần ở giữa trước sau đó mới đến phần bên trái và cuối cùng là bên phải. Ví dụ như trong chữ 兜 và chữ 承.

    Viết phần bao quanh bên ngoài trước phần nội dung bên trong

    Các phần bao quanh bên ngoài luôn luôn được viết trước các phần nằm bên trong; nếu có các nét dưới cùng trong phần bao quanh thì sẽ được viết sau cùng, như trong chữ 日 và chữ 口.

    Viết nét sổ dọc bên trái trước các nét bao quanh

    Viết nét bao quanh ở đáy sau cùng

    Các thành phần bao quanh nằm ở dưới đáy chữ sẽ được viết sau cùng, như các chữ: 道, 建, 凶.

    Viết các nét chấm, nhỏ sau cùng

    Những nét nhỏ viết sau cùng khi hoàn thiện chữ, như: 玉, 求, 朮.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xưng Hô Theo Lối Hán Việt Cổ Ngữ
  • Cách Nhớ Hán Tự Trong Tiếng Nhật
  • Chữ Phúc Mãn Đường Có Ý Nghĩa Gì Trong Phong Thủy?
  • Chữ Phúc Mãn Đường Có Ý Nghĩa Gì Theo Phong Thủy
  • Viết Chữ Phúc Bằng Tiếng Hán
  • Cách Nhớ Chữ Hán Dễ Dàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán
  • Chữ Tâm Trong Tiếng Hán: Cách Viết Và Ý Nghĩa Của Chữ Tâm
  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán: Ý Nghĩa, Cách Viết
  • Cách Viết Tiếng Nhật Trên Máy Tính
  • Cách Viết Tiếng Trung Quốc (Chữ Hán) Cơ Bản Với Chinese
  • 1. Một số bí kíp nhớ chữ Hán hiệu quả

    Bước 1. Học các nét cơ bản và quy tắc viết chữ Hán

    Cố gắng ghi nhớ tên và ý nghĩa của các bộ thủ thường xuất hiện trong tiếng Hán, vì nhớ được chúng, các bạn sẽ nhanh chóng học thuộc được các chữ Hán khác.

    Khi học chữ Hán bạn cố gắng tưởng tượng theo cách của mình sao cho dễ nhớ nhất. Ví dụ chữ ” 吃” có nghĩa là ăn, bạn có thể tưởng tượng bộ Khẩu 口 là cái miệng , thức ăn đưa vào miệng và xuống dạ dày có hình thù giống bộ Ất 乙

    Bước 2. Tập hợp và ghi nhớ các bộ thủ phổ biến

    Đa số chữ Hán đều cấu tạo từ nhiều bộ thủ, tiếng Trung có tất cả 214 bộ thủ, mỗi bộ thủ đều mang một ý nghĩa riêng, việc nắm vững được các bộ thủ sẽ giúp ích rất nhiều cho việc học và ghi nhớ chữ Hán. Bộ thủ có thể thể hiện ý nghĩa (biểu nghĩa) của chữ hoặc thể hiện âm đọc (biểu âm) cuả chữ, vì thế có thể dựa vào bộ thủ để phán đoán nghĩa và âm đọc.

    Ví dụ biểu nghĩa:

    Ví dụ biểu âm:

    – Những chữ có bộ 生 như 牲, 笙, 栍, 泩, 苼, 狌 đều được đọc là “shēng”.

    – Những chữ có bộ 青 như 清, 请, 情, 晴 đều mang cùng thanh mẫu vận mẫu “qing”, chỉ khác nhau thanh điệu.

    Bước 3: Luyện tập hàng ngày

    Đối với các bạn mới bắt đầu học tiếng Trung, học từ mới đến đâu các bạn phải luyện viết từ mới tới đó. Đồng thời, vừa viết vừa phải suy nghĩ trong đầu về nét, về bộ mình đang viết, đừng đưa ngòi bút trong vô thức mà phải tư duy theo kết cấu của chữ Hán theo cách phân tích bên trên.

    2. Một số phương pháp nhớ chữ Hán

    Có nghĩa là “tách chữ để nhớ chữ”. Chiết tự chính là phân tích chữ một cách linh hoạt và sáng tạo theo một tư duy logic nhất định giúp chúng ta nhớ chữ lâu hơn. Ví dụ:

    – Chữ 休 nghĩa là “nghỉ ngơi”, chữ này được ghép từ chữ 人(người) và chữ 木(cây), như vậy chữ 休 có nghĩa là người dựa vào gốc cây ngồi nghỉ.

    – Chữ 好 có nghĩa là “tốt”, được ghép bởi chữ 女 (phụ nữ) và chữ 子 (con trai), theo quan niệm phong kiến của Trung Quốc, phụ nữ sinh được con trai mới là tốt.

    2. Phương pháp nhớ chữ Hán qua thơ

    Người Việt đã sáng tạo nên những câu thơ, câu văn vần mô tả chữ để ghi nhớ chữ Hán lâu hơn. Ví dụ:

    Chữ 德 gồm: bộ chim chích hay nhân kép (彳), thập (十), tứ (四), nhất (一) và tâm (心), được miêu tả qua hai câu thơ:

    Chim chích (彳) mà đậu cành tre

    Thập (十) trên tứ (四) dưới nhất (一) kề liền tâm (心).

    “Cô kia đội nón chờ ai

    3. Nhớ chữ Hán qua chữ Hình thanh (Hài thanh)

    Trong chữ Hán có khoảng gần 80% là chữ Hình thanh, chữ hình thanh là chữ mà trong đó có một bộ thủ đại diện cho nghĩa, một bộ thủ đại diện cho âm đọc. Khi ta nắm được ý nghĩa các bộ thủ và âm đọc của nó thì ta có thể dễ dàng suy luận và ghi nhớ được các chữ Hán khác.

    Ví dụ:

    Ta đã học được chữ “马 mă” nghĩa là con ngựa. Thì khi ta học chữ “妈妈 Māma” nhanh hơn, vì mẹ là con gái, nên có bộ 女, cách phát âm từ 妈妈 cũng gần giống “ma”, Như vậy chữ 妈 là chữ Hình thanh, trong đó bộ “女nữ” đại diện cho nghĩa chỉ con gái, bộ “马 mã” đại diện cho thanh vì có âm đọc gần giống nhau

    Tương tự ta có: 吧、爸、把…đều là chữ Hình thanh. Chữ “爸 bà” có bộ Phụ nói về bố, và chữ 巴 chỉ cách phát âm là “ba”

    Tiếng Trung Thượng Hải luôn được học viên đánh giá là điạ chỉ học tiếng Trung uy tín và chất lượng tại Hà Nội. Với phương pháp dạy và luyện tập, học là thực hành luôn, với chương trình học riêng cho từng cấp độ từ các lớp Hán ngữ cơ bản tới nâng cao. Đội ngũ giáo viên dày kinh nghiệm, tâm huyết với nghề luôn sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ học viên, hướng dẫn học chi tiết, dễ hiểu, truyền thụ các phương pháp học hay, giúp bạn thêm tự tin trong việc học tiếng Trung.

    Cuối cùng là ở chính bản thân các bạn, hãy kiên nhẫn, và chăm chỉ. Mỗi ngày dành một chút thời gian để luyện viết và đọc chữ Hán, sau một thời gian chăm chỉ học, bạn sẽ phát hiện ra chữ Hán càng học càng dễ.

    GIÁO TRÌNH VÀ TÀI LIỆU HỌC TIẾNG TRUNG HIỆU QUẢ ĐỐI CHIẾU CHỮ HÁN PHỒN THỂ VÀ GIẢN THỂ CÁCH HỌC TIẾNG TRUNG NHANH VÀ HIỆU QUẢ NHẤT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Chữ Hán Trên Vi Tính
  • Cách Viết Chữ Trên Facebook Messenger Kiểu In Đậm, In Nghiêng
  • Cách Viết Chữ Hiệu Ứng Độc Đáo, Chữ In Đậm, Nghiêng,…lên Facebook
  • 21 Thủ Thuật Và Tính Năng Trên Facebook Mà Bạn Nên Biết
  • Tiểu Sử Facebook Hay Chất Ngắn Gọn, Độc, Buồn, Tâm Trạng Nhất
  • Chữ Thọ Trong Tiếng Hán: Ý Nghĩa, Cách Viết Cách Điệu

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữ Dương, Có 9 Chữ Dương
  • Ý Nghĩa Chữ Trung Quốc Nhẫn, Phúc, Lộc, Thọ, Đức, An, Tâm…
  • Chữ Đức Và Những Ý Nghĩa Trong Từng Nét Bút
  • Chữ Lộc Tiếng Hán
  • Ý Nghĩa Chữ Đức Tiếng Hán
  • Chữ thọ trong tiếng Hán có ý nghĩa gì? Người Trung coi trọng chữ thọ ra sao? Học cách viết chữ thọ trong tiếng Hán như thế nào?

    1. Ý nghĩa chữ thọ trong tiếng Trung

    Sống thọ để hưởng phúc lộc vẫn là ước muốn muôn thuở muôn phương của nhân loại.

    Chữ Thọ theo chữ Hán xếp vào bộ sĩ gồm có 5 chữ cấu thành:

    Chữ sĩ xếp trên đầu chữ Thọ. Sĩ nghĩa đen là học trò, học rộng là sự hiểu biết, là tư duy. Như vậy điều đầu tiên muốn sống lâu thì bộ óc luôn luôn phải suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo.

    Người Pháp có câu tục ngữ “Tôi suy nghĩ, là tôi tồn tại”. Như vậy thường xuyên suy nghĩ sáng tạo là giúp ta sống lâu. Ngày nay, đã có quan điểm xây dựng một xã hội học tập và học tập suốt đời. Ở ta các cụ làm công tác nghiên cứu khoa học vào tuổi trên 70 vẫn còn học sử dụng thành thạo vi tính. Người ta thường nói những suy nghĩ sâu sắc nhất thường chỉ có ở tuổi già. Những điều nêu trong di chúc của Hồ Chủ tịch, những tiên đoán của các học giả tiền bối nổi tiếng đều chứng minh cho luận điểm này.

    Chữ cấu thành thứ 2 của chữ Thọ là chữ Nhị, nghĩa đen là hai. Nghĩa rộng ra là quan hệ giao lưu qua lại. Người già muốn sống lâu phải thường xuyên giao tiếp tìm đối tác, trao đổi từng lĩnh vực của đời sống như văn hóa, chính trị, khoa học, kinh tế xã hội. Việc giao tiếp này cũng có nghĩa là nâng cao năng lực tư duy, giải tỏa những mắc mớ làm cho đầu óc thanh thản.

    Trong phương châm sống của người Trung Hoa, người già cần có vợ chồng chung thuỷ; có bạn bè tri kỉ để trao đổi tâm tình. Có nhiều cụ sống trên 80 tuổi, bạn bè càng ngày ít vì các cụ đã dần dần ra đi. Do đó, cần tăng cường giao lưu để có nhiều bạn mới, có cơ hội gặp nhau thường xuyên, sống vui vẻ là ít bệnh tật hơn.

    Chữ thứ 3 của chữ Thọ là chữ Công, nghĩa là vận động. Người già muốn sống lâu cần vận động theo sức lực của mình; trong vận động đáng chú ý nhất là đi bộ. Tuy nhiên đối với người đau khớp gối, khớp háng lại nên chỉ đi bộ vừa phải.

    Chữ thứ 4 là chữ Thọ là chữ Khẩu, nghĩa là miệng. Trong các chữ Hán có nghĩa phát ra lời nói, phần lớn có chữ Khẩu hoặc chữ Ngôn (nói). Chữ Khẩu trong chữ Thọ có nghĩa trừu tượng hơn. Những người miệng độc ác thì sẽ không thể thọ được. Luôn nói lời hay ý đẹp sẽ được mọi người yêu mến, sống vui vẻ và thọ lâu.

    Mơ ước sống thọ của con người còn được biểu hiện qua hình ảnh Thọ tinh. Là một vị tinh quân (thần sao) mà người Việt quen gọi là ông Thọ. Một hãng sữa hộp ở Việt Nam đã khôn khéo lấy hình ảnh Thọ tinh in lên nhãn, ngụ ý tạo ra ấn tượng uống sữa Ông Thọ thì bổ dưỡng, sống lâu.

    Thọ tinh là một trong bộ ba vị tinh quân (Tam tinh) là Phúc, Lộc, Thọ.

    Thọ tinh trong tranh vẽ là ông lão cao ráo, mảnh khảnh, đôi chân mày bạc, râu dài bạc phơ, đầu hói và dài, miệng cười hiền hòa, có thể kèm thêm một chú bé con (đồng tử, tiểu đồng) theo hầu.

    Một tay Thọ tinh cầm gậy, sần sùi những mắt gỗ. Có lẽ làm từ rễ cây của một cổ thụ đã sống rất nhiều năm; tay kia Thọ tinh cầm quả đào. Có khi Thọ tinh chỉ cầm một trong hai món này.

    Trái đào tượng trưng cho sự trường sinh bất tử. Liên hệ tới truyền thuyết về quả bàn đào ở vườn đào tiên của Tây vương mẫu. Cứ ba ngàn năm mới trổ bông, ba ngàn năm mới kết trái, ba ngàn năm mới chín, ăn được quả bàn đào thì trường sinh bất tử.

    Truyện Tây du của Ngô Thừa Ân đã kể rất ly kỳ chuyện Tôn Ngộ Không quậy phá tưng bừng làm tan hoang Hội yến Bàn đào của Tây vương mẫu.

    Nhiều gia đình tổ chức lễ thượng thọ cho cha mẹ, ông bà vì thế còn đặt làm loại oản bột nặn hình quả đào, nhuộm phẩm màu phơn phớt hồng, ra ý hiến đào là dâng thêm tuổi thọ cho người thân.

    Có khi vẽ Thọ tinh sinh ra từ quả đào, do hai tiểu đồng khiêng đi.

    Vì trái đào là biểu tượng cho trường sinh cho nên có khi người ta vẽ ba trái đào nằm giữa năm con dơi; với ý nghĩa mong ước hay cầu chúc trường sinh bất tử và hưởng được ngũ phúc. Số ba và số năm là số dương (mà dương là tốt đẹp, đối lập với âm là xấu). Số ba cũng do ảnh hưởng của Đạo đức kinh: “Một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật.” . Vậy thì số ba hàm nghĩa sinh sinh hóa hóa, sinh sôi nảy nở, là sức sống bất diệt.

    Đôi khi tranh vẽ Thọ tinh cỡi trên lưng hay đứng bên cạnh một con hươu sao hoặc con nai. Hươu hay nai chữ Hán gọi là lộc, đọc cùng âm với chữ thọ, thụ theo nghĩa thọ nhận, nhận được.

    2. Cách viết chữ thọ bằng tiếng Hán

    Chữ thọ bằng tiếng Hán cách điệu thành hình tròn còn được kết hợp với một vòng tròn bao quanh gồm năm con dơi và năm chữ vạn (swastika) xen kẽ nhau.

    Con dơi chữ Hán gọi là bức, đọc cùng âm [fú] với chữ phúc, phước theo nghĩa may mắn, phúc lành. Năm con dơi tức là ngũ phúc, gồm có: (1) Thọ, là sống lâu; (2) Phú, là giàu có; (3) Khang ninh, là bình an; (4) Du hiếu đức, là có lòng ưa thích đạo đức; (5) Khảo chung mệnh, sống lâu cho tới hết đời.

    Chữ vạn là biểu tượng cho sự tốt lành (cát tường). Nhưng vạn còn đồng âm với chữ vạn (10.000) với nghĩa là vô số.

    Như vậy, đặt chữ thọ trong vòng năm con dơi và năm chữ vạn hàm nghĩa ao ước hay cầu chúc được hưởng ngũ phúc và vạn thọ (sống lâu muôn tuổi).

    --- Bài cũ hơn ---

  • 500 Chữ Hán Cơ Bản Trong Tiếng Trung Quốc Cần Học ⋆ Trung Tâm Đào Tạo Tiếng Trung Chinese
  • Combo Sách Hay: Tập Viết Chữ Hán Cho Người Mới Bắt Đầu + Tự Học Tiếng Trung Dành Cho Người Việt
  • Giải Thích Một Số Từ Ngữ Thường Dùng Trong Gia Phả, Bia Mộ …
  • Cách Ghi Chữ Trên Bia Mộ Đá Chuẩn Văn Hóa
  • Cách Viết Chữ Bia Mộ, Lăng Mộ Theo Phong Thủy.
  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán: Ý Nghĩa, Cách Viết

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Viết Tiếng Nhật Trên Máy Tính
  • Cách Viết Tiếng Trung Quốc (Chữ Hán) Cơ Bản Với Chinese
  • Tập Viết Chữ Hán: 8 Quy Tắc Viết Chữ Trung Quốc Bắt Buộc Phải Nhớ
  • Hướng Dẫn Viết Chữ Trên Bia Mộ, Lăng Mộ.
  • Cách Viết Chữ Bia Mộ, Lăng Mộ Theo Phong Thủy.
  • Tìm hiểu về ý nghĩa chữ phúc trong tiếng Hán. Học cách viết chữ phúc tiếng Hán đẹp nhất. Trả lời câu hỏi tại sao người ta treo chữ phúc ngược trong nhà.

    1. Các ý nghĩa của chữ phúc trong tiếng Trung

    Chữ Phúc tiêu biểu cho may mắn sung sướng, thường dùng trong từ ngữ hạnh phúc. Người Á Đông, từ lâu đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ phúc, mà ngày nay người ta còn thấy trong nhiều vật trang trí, trong kiến trúc, và cả trên y phục.

    Chữ phúc gồm bộ thị đi liền ký tự phúc. Bộ thị vốn là hình vẽ cái bàn thờ. Ký tự phúc – mà người đời sau chiết thành nhất khẩu điền – vốn là hình vẽ một vò rượu. Nghĩa là sao? Cầu cho trong nhà được bình rượu luôn đầy. Thế là đầy đủ, dồi dào và hoàn bị. Ý nghĩa của chữ phúc thoạt kỳ thủy tương tự chữ phú 富, ngày nay được hiểu là giàu.

    Chữ phúc lần hồi được hiểu là “điều tốt lành” hoặc “việc may mắn” . Do đó, nhiều kết hợp từ có yếu tố phúc nhằm chỉ sự vui vẻ, no ấm, an lành: phúc đức, phúc ấm, phúc tinh, phúc hạnh, hạnh phúc, hồng phúc, diễm phúc, v.v.

    Lưu ý rằng trong từ Hán – Việt còn mấy chữ phúc đồng âm dị nghĩa:

    • Phúc 輹 có nghĩa thanh gỗ ngang dưới xe dùng nắt liền trục xe với thân bánh xe;
    • Phúc 輻 / 辐 có nghĩa nan hoa bánh xe;
    • Phúc 蝮 có nghĩa rắn độc (như phúc xà là rắn hổ mang);
    • Phúc 腹 có nghĩa là bụng (như tâm phúc, phúc mạc, v.v.);
    • Phúc 覆 /复 có nghĩa lật lại, xem xét lại kỹ càng (như phúc khảo, phúc hạch, v.v..);
    • Phúc 蝮 có nghĩa là chiều ngang, khổ, viền mép vải, bức (như nhất phúc hoạ là một bức tranh); phúc có nghĩa là con dơi.

    Chữ phúc chỉ con dơi được viết khác: không phải bộ thị mà là bộ trùng (tức côn trùng, rắn rết, v.v.) đi kèm. Gọi cho đầy đủ theo tiếng Hán, con dơi là biên phúc 蝙蝠.

    Tuy nhiên : cả hai chữ phúc đều được phát âm là phú. Do đó, họ lấy hình ảnh con dơi tượng trưng cho điều tốt lành, may mắn.

    2. Tại sao ngày Tết người ta treo chữ phúc lộn ngược

    Nhiều người khi đến nhà ai đó chơi nhìn thấy chữ phúc treo lộn người thì chê gia chủ không biết tiếng mà còn đòi chơi chữ. Nhưng thực chất đó mới là người chưa hiểu được ý nghĩa sâu xa của việc treo đó.

    Thực chất, đây là một phong tục độc đáo và có nhiều cách giải thích khác nhau, ví như điển tích “thợ mộc Thái Sơn” chẳng hạn. Trên phương diện ngôn ngữ, đây lại là lối “chơi chữ” đặc sắc dựa theo tính chất đồng âm.

    Chữ phúc tiếng Hán lộn ngược gọi là gì ? Phúc đảo. Tiếng Bắc Kinh đọc là phú dào, y hệt như… phúc đáo, nghĩa là “điều tốt, vận may đến”. Đầu năm đầu tháng (hoặc làm lễ khai trương cửa hiệu, ăn mừng tân gia, v.v.), hỏi ai chẳng mong “bồng ông Phúc vào nhà” như vế đối Nguyễn Công Trứ từng nêu ?

    3. Chữ phúc biến hoá thành phước

    Phúc và phước là từ đồng nghĩa dị âm. Chính âm là phúc. Biến âm thành phước. Vấn đề đặt ra: sự biến âm ấy diễn ra từ bao giờ? Vì sao? Đâu là giới hạn?

    Mọi người đều biết rằng hiện tượng “viết chệch, đọc lệch” từng xuất hiện trong lịch sử do kiêng húy. Chữ phúc bị kiêng, thoạt tiên từ thời Tây Sơn. Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng (1797 – 1864) có đoạn: “Xã tôi xưa gọi là Long Phúc, vì Nguyễn Huệ có tên giả là Phúc, nên đổi gọi là Long Phú”.

    Vậy là Phúc biến thành Phú, tức thay hẳn cả chữ lẫn nghĩa. Còn Phúc biến thành Phước thì giữ nguyên chữ nghĩa, chỉ đổi âm, thực sự phổ biến kể từ năm Quý Mùi 1883 – thời điểm công tử Ưng Đăng lên ngôi vua, chọn niên hiệu Kiến Phúc.

    Dù đây không phải là trọng húy được triều đình chuẩn định ban bố, song từ hoàng thân quốc thích đến quan quân lẫn thứ dân thảy đều gọi kiêng. Dòng họ Nguyễn Phúc được đọc trại ra Nguyễn Phước. Theo đó, Phúc – Lộc – Thọ biến thành Phước – Lộc – Thọ; may phúc thành may phước; phúc đức thành phước đức; diễm phúc thành diễm phước, v.v.

    Tuy nhiên, do không phải trọng húy mà chỉ là khinh huý, nên sự biến âm đã diễn ra chẳng triệt để. Vì thế cần lưu ý rằng trong Việt ngữ, chẳng phải bất kỳ trường hợp nào phước đều có thể thay thế hoàn toàn cho phúc. Ví dụ: hạnh phúc, phúc đáp, phúc âm, v.v.

    Tương tự trường hợp hoa đổi thành bông (do kiêng húy danh Tá Thiên Nhơn hoàng hậu Hồ Thị Hoa), nhiều khi phúc biến ra phước lại mang màu sắc có vẻ “thuần Việt” hơn. So sánh ân phúc với ơn phước ắt rõ điều này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chữ Tâm Trong Tiếng Hán: Cách Viết Và Ý Nghĩa Của Chữ Tâm
  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán
  • Cách Nhớ Chữ Hán Dễ Dàng
  • Đánh Chữ Hán Trên Vi Tính
  • Cách Viết Chữ Trên Facebook Messenger Kiểu In Đậm, In Nghiêng
  • Bài 5: Quy Tắc Viết Chữ Hán Đẹp

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Viết Chữ Hàn Quốc Cực Dễ Và Hiệu Quả
  • Muốn Viết Chữ Hàn Quốc Đẹp
  • Học Cách Viết Tiếng Hàn Với 3 Bí Quyết Siêu Dễ
  • Cách Luyện Viết Chữ Hàn Quốc
  • Cách Viết Chữ Q Thường Và Hoa Đẹp Đúng Mẫu
  • 1.1. 8 nét cơ bản trong tiếng Trung

    Hướng dẫn dạy viết đẹp 8 nét cơ bản

    Quy tắc 1:

    Ngang trước sổ sau

    Ví dụ: chữ Thập ” ” (số 10)

    Viết nét ngang trước, nét dọc viết sau.

    Ví dụ: chữ Bát ” “(số 8)

    Viết nét phẩy trước, nét mác viết sau.

    Quy tắc 3:

    Trái trước phải sau

    Ví dụ: Với chữ Châu ” “(châu)

    Viết lần lượt các nét từ trái qua phải: chấm, phẩy, chấm, sổ, chấm, sổ.

    Mỗi nét được viết từ trái qua phải và lần lượt từ trên xuống dưới.

    Quy tắc 5:

    Ngoài trước trong sau

    Ví dụ: chữ Phong ” ” (Gió)

    Bên ngoài viết trước, bên trong viết sau.

    Khung ngoài viết trước, viết tiếp bộ khẩu bên trong và cuối cùng là đóng khung lại.

    Quy tắc 7: Giữa trước 2 bên sau

    Ví dụ: chữ Thủy ” ” (Nước)

    Nét ở giữa viết trước, tiếp đến là viết bên trái, rồi viết bên phải cuối cùng.

    Viết các bộ khác trước, bộ sước辶và bộ dẫn viết sau cùng.

    Ví dụ: chữ Đây ” ” ( Đây, này). Bộ văn viết trước, bộ sước viết sau:

    Phương pháp ghi nhớ chữ hán “độc đáo mà hiệu quả” của Tiếng Trung Thượng Hải

    2. Cách viết đẹp nét trong chữ Hán

    .. thành nhỏ nhất của chữ Hán, được biểu hiện bằng các đường vạch. Vì thế, muốn

    Chữ Hán là loại văn tự biểu ý kiêm biểu âm, được cấu tạo bằng các nét, mỗi chữ được viết trong một ô vuông.Nét chữ Hán là đơn vị cấu viết chữ Hán đẹp và chuẩn phải bắt đầu từ việc luyện viết các nét chữ. Nét chữ viết đúng hay sai, viết đẹp hay xấu đều trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng viết chữ Hán. Khi viết các nét, phải nắm được đặc điểm của nét đó.

    Dựa vào đặc điểm các nét, ta có thể phân thành các loại sau:

    * Nét cong gập: Sổ cong ; Sổ cong móc 乚 . Khi viết cong phải cong như cánh cung nhưng không yếu, nét cong gập chỗ

    * Nét gập: Ngang gập ┐ ; Sổ gập ∟ . Nét dài và ngắn. Nói nét dài hay ngắn là nói trong sự so sánh của cùng một loại nét, độ dài ngắn này là do cấu tạo của chữ quyết định.

    Khi viết các nét này phải xác định được vị trí, độ dài ngắn của nét trong chữ để viết cho phù hợp.

    * Nét đậm và thanh ( nhỏ và to): Nét đậm hay thanh là do khi viết nhấn ngòi bút mạnh hay nhẹ.

    + Những nét có dạng nhọn như nét phảy, mác, móc và hất khi đặt bút và đưa bút nhấn bút mạnh hơn, nét chữ đậm; khi kết thúc nét thì nhấc dần bút, nét chữ thanh và nhọn dần: ノ , 亅

    * Nét đứng và nghiêng: Nét đứng hay nghiêng là do sự thay trạng thái của nét. Cùng một nét nhưng ở các chữ có kết cấu khác nhau sẽ có sự thay đổi trạng thái đứng hay nghiêng khác nhau để chữ được cân đối.

    Ví dụ: Nét phẩy trong chữ 人 ( rén ) viết thành nét phẩy nghiêng ノ ; nét phẩy trong chữ 月 ( yuè ) viết thành nét phẩy đứng 丿.

    – Đưa bút: Đưa bút hơi nhẹ, nét viết hoặc thẳng hoặc cong hoặc gập.

    – Nhấc bút: Nhấc bút hoặc nhấn mạnh hoặc nhấc nhẹ dần tạo thành nét (có đầu) nhọn.

    Để viết ra một cánh cung, nét cong gập phải cong tròn tự nhiên. Khi chữ Hán đẹp và chuẩn, nét chữ viết ra vừa phải cứng vừa phải mềm. Nét ngang, nét sổ phải bằng phải thẳng; nét cong phải cong đều như viết chữ Hán bạn cần phải thả lỏng tay của mình, không nên cầm quá chặt bút bởi như vậy sẽ làm cho các đường nét, con chữ của bạn thô cứng, lệch và xấu… Thả lỏng tay viết mềm mại, nhẹ nhàng.

    。。

    Trong tiếng Hán có tổng cộng 214 bộ thủ. Bộ thủ là bộ phận cấu thành chữ, cũng là mục để tra chữ. Nếu các bạn nhớ bộ thủ thì việc viết chữ Hán không còn là vấn đề khó khăn.

    Ví dụ:

    – Viết bộ nữ (女): Viết nét phẩy chấm phải viết hẹp (đứng) và dài, nét phẩy thứ hai nghiêng hơn nét phẩy thứ nhất, nét ngang dài thành nét hất viết ngang mà không cắt qua nét phẩy thứ hai. Ví dụ: 好,妈.

    Viết chữ độc thể phải ngang bằng sổ thẳng, trọng tâm ổn định: 干、 年、半. Phẩy mác vươn dài, giữ được cân bằng: 米、衣. Ngang sổ cân

    bằng, mau thưa cân đối. Xác định nét chính, nắm vững trọng tâm: 士、左、 我. Nét chữ hô ứng, hình chữ sinh động.

    ..

    Chữ hợp thể là chữ có kết cấu hợp thể do hai hay nhiều bộ thủ kết hợp với nhau tạo thành. Cùng một bộ thủ nhưng ở các chữ khác nhau có

    thể có những vị trí khác nhau và chiếm một tỉ lệ diện tích khác nhau trong chữ, vì thế tạo nên sự đa dạng về hình thức tổ hợp của chữ hợp thể. Khi viết chữ hợp thể cần chú ý tỉ lệ giữa các bộ phận của chữ sao cho hài hòa cân đối.

    CÁC PHẦN MỀM/APP LUYỆN VIẾT CHỮ HÁN HAY NHẤT

    TIẾNG TRUNG CHỦ ĐỀ ĐỒNG NGHIỆP NÓI CHUYỆN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kí Tự Đặc Biệt Pubg Mobile 2022: Cách Viết Ra Sao?
  • Cách Viết Tên Kí Tự Đặc Biệt Trong Pubg Mobile
  • 1000+ Kí Tự Đặc Biệt Pubg Mobile Hay Nhất 2022
  • Kí Tự Đặc Biệt Pubg Mobile 2022 Và Cách Đổi Tên
  • Kí Tự Đặc Biệt Pubg Mobile 2022 ❤️ Chất Số 1️⃣ Việt Nam
  • Viết Chữ Phúc Bằng Tiếng Hán

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữ Phúc Mãn Đường Có Ý Nghĩa Gì Theo Phong Thủy
  • Chữ Phúc Mãn Đường Có Ý Nghĩa Gì Trong Phong Thủy?
  • Cách Nhớ Hán Tự Trong Tiếng Nhật
  • Xưng Hô Theo Lối Hán Việt Cổ Ngữ
  • Cách Học Viết Chữ Hán Hiệu Quả Bất Ngờ
  • Chữ Phúc có ý nghĩa rất quan trọng. Nhà có phúc là ước nguyện, niềm vinh dự của mỗi gia đình, mỗi con người. Đặc biệt, vào dịp tết cổ truyền, chữ phúc trên tờ giấy đỏ vuông dán ở cửa như một lá bùa đem tới may mắn, tốt lành cho năm mới.

    Tóm Tắt [hide]

    Ngày xưa, ông bà chúng ta có phong tục xin chữ của thầy đồ, chữ Phúc viết theo lối thư pháp tiếng Hán trên giấy đỏ cầu vận may, hạnh phúc, thịnh vượng cho năm mới. Ngày nay, con người vẫn giữ gìn nét văn hóa này, dù có xin chữ hay không thì tục lệ dán giấy đỏ chữ phúc bằng tiếng Hán trước cửa nhà để cầu mong phúc lành ghé qua.

    Tại Trung Quốc, vào đầu năm, người dân treo chữ phúc ngược vì theo quan niệm chữ phúc dán ngược sẽ thành phúc đảo, đọc gần với phúc đáo, nghĩa là phúc tới nhà. Người Việt Nam thì chữ phúc không treo ngược.

    Thời nay, vật phẩm phong thủy trang trí phát triển đa dạng, chữ phúc có thể viết theo lối thư pháp tiếng việt treo phòng khách trong nhà, dán lên dưa hấu hoặc khéo léo hơn người ta khắc chữ phúc lên dưa hấu, dừa, bưởi để thêm phần trang trọng, chữ Phúc trên lịch treo tường, hộp bánh mứt, bàn thờ tổ tiên, trang phục cho ngày tết.

    Tuy nhiên, chữ phúc dán trước nhà vào ngày đầu năm mới vẫn viết bằng chữ Hán không thay thế bằng chữ thư pháp Quốc Ngữ.

    Khái niệm chữ Phúc viết bằng tiếng Hán

    Chữ Phúc gồm 3 chữ nhất – khẩu – điền có nghĩa như bình rượu đầy, ruộng vườn thể hiện sự ấm no, đầy đủ.

    -Chữ Phúc tương đồng với chữ Phú chỉ sự giàu sang, ấm no, tiền bạc, của cải vật chất dư thừa, thoải mái.

    -Trong tiếng Hán, chữ Phúc gợi liên tưởng tới chữ Hợp có nghĩa cùng nhau làm, cùng với nhau như câu” có phúc cùng hưởng, gặp nạn cùng chịu”, cả gia đình vui vẻ.

    -Chữ Phúc liên tưởng tới chữ Đồng, có nghĩa cùng chung như “hữu phúc đồng hưởng, hữu nạn đồng đương”.

    Chữ Phúc Mãn Đường trong tiếng Hán có nghĩa là

    -Phúc là sự sung sướng,may mắn, tốt lành.

    -Mãn Đường nghĩa là đầy nhà, khắp nhà.

    Phúc Mãn Đường là những điều tốt đẹp, hạnh phúc, vận may đầy nhà, gia đình sum họp, vui vẻ, viên mãn, đủ đầy, tinh thần thì tươi vui, tiền tài đầy ắp. Chữ phúc mãn đường rất được ưa chuộng bày trí trong không gian nhà với mục đích đem lại nhiều điều tốt đẹp nhất, thường được sử dụng viết lên cuốn thư hoặc lục bình bằng men, bằng gỗ tùy theo sở thích của gia chủ. Đồ dùng phong thủy này vừa mang lại không khí tốt, niềm tin về tâm linh mà còn trang trí cho ngôi nhà thêm đẹp, trang trọng hơn.

    Chữ phúc là những điều may mắn, con người mong ước trong cuộc đời, hình tròn thể hiện sự trọn vẹn, đầy đủ . Chữ phúc được lồng vào hình vòng tròn trong các hoa văn điêu khắc đầy nghệ thuật mang ý nghĩa quan trọng trong phong thủy, mang vẻ đẹp cổ kính, trang trọng, quý phái, thể hiện ước nguyện may mắn, tốt lành cho con người.

    -Phúc là thanh ngang gắn trục xe với thân bánh xe.

    -Phúc nghĩa xem xét lại, khôi phục, làm lại : phúc khảo, phúc hạch, phúc thẩm.

    -Phúc nghĩa là rắn độc : phúc xà.

    -Phúc nghĩa là bụng : tâm phúc, phúc mạc.

    -Phúc nghĩa là con dơi : biên phúc.

    Phúc là chỉ sự may mắn, tốt lành. Những kết hợp với phúc chỉ sự vui vẻ : phúc đức, phúc ấm, phúc tinh, phúc hạnh, hạnh phúc, hồng phúc, diễm phúc…

    Chữ Phúc Lộc Thọ trong tiếng Hán

    Phúc Lộc Thọ là ba điều cơ bản cho cuộc sống tươi đẹp là Phúc- điều tốt lành, nhiều may mắn, Lộc – là tiền của, thịnh vượng, Thọ – sức khỏe tốt , sống lâu. Phúc Lộc Thọ là 3 vị thần gọi là Tam Đa, thường gắn liền với nhau đem lại cuộc sống viên mãn.

    1.Phúc có nghĩa những sự tốt lành, phú quý, thọ khảo, khang kiện…hưởng phúc.

    -Phúc có nghĩa vận may, cơ hội tốt : khẩu phúc, nhỉ phúc, nhãn phúc.

    -Phúc có nghĩa là lợi ích : vạn phúc, phúc lợi.

    -Phúc nghĩa rượu thịt dùng việc tế lễ.

    -Phúc là một phép thời xưa, phụ nữ đặt tay sau lưng, nắm lại để kính lạy .

    -Phúc nghĩa là giúp đỡ : ban phúc, tạo phúc.

    -Phúc tượng trưng của sự may mắn, điều lành, vui vẻ. Tương truyền, ông Phúc là vị quan thanh liêm, nhà ông Phúc có rất đông con cháu. Vì thế, hình ảnh ông Phúc cùng với đứa trẻ nắm lấy vạt áo, hay nhiều đứa trẻ vây quanh, hay con dơi bay xuống ông vì con dơi trong chữ Hán cùng âm với Phúc, con vật mang biểu tượng của điềm lành, vận may giống chữ Phúc. Phúc, hình ảnh thần Phúc tinh và con dơi thường được lồng ghép, khắc họa trong các vật phẩm phong thủy như giấy đỏ dán trước cửa vào ngày đầu năm mới, dưa hấu, dừa, hộp bánh mứt, chữ thư pháp treo tường, treo cây mai , tranh chữ Phúc và 4 con dơi 4 gốc tạo thành ngũ phúc nghĩa là ngũ phúc lâm môn ( năm điều phúc tới cửa )

    2.Lộc có nghĩa tốt lành :gia lộc, phúc lộc.

    -Lộc có nghĩa lương bổng : bổng lộc.

    -Lộc là tên một giống linh thú : thiên lộc.

    -Lộc là ông thần tài tượng trưng cho giàu có, thịnh vượng. Gia đình nào cũng thờ vị thần tài cầu mong làm ăn thuận lợi, sự nghiệp thành công. Lưu truyền, ông Lộc cũng là vị quan lớn trong triều đình thời Thục Hán, lập nhiều công trạng nên được Hoàng thượng ban thưởng nhiều tiền của. Tài sản vàng bạc chất cao như núi. Ông thường mặc áo màu xanh lục, chữ lục trong chữ Hán đọc gần âm với lộc, tay cầm gậy như ý và thường có con hươu bên cạnh, hươu trong chữ Hán cũng đọc là lộc.

    3.Thọ : nghĩa là sống lâu, lâu dài , tuổi già.

    -Thọ có nghĩa là tuổi đời, niên kỷ : trung thọ, thượng thọ.

    -Thọ có nghĩa ngày sinh nhật : chúc thọ, mừng thọ.

    -Thọ có nghĩa đồ dùng chuẩn bị sẵn khi qua đời như, quần áo để mặc cho người mất gọi là y thọ, quan tài để sẵn dùng khi qua đời gọi là thọ mộc.

    -Đời xưa dùng vàng lụa tặng cho người tôn kính, dùng rượu ..cũng gọi là Thọ

    -Thọ là hình ảnh của ông Thọ, đầu tóc bạc trắng, trán nhô cao và hói, tay cầm quả đào tiên, bên cạnh là con hạc trắng, tay cầm gậy buộc hồ lô. Tất cả hình ảnh trên đều nói tới sự trường thọ, sống lâu khỏe mạnh. Quả đào tiên, hồ lô đại diện của sự trường thọ.

    Chữ Phúc Lộc Thọ là 3 điều mơ ước mà con người hướng đến trong cuộc sống, tượng trưng của 3 vị thần trong tâm linh của người Việt nói riêng. Phong tục trang trí chữ Phúc Lộc Thọ và vật phẩm sử dụng lồng ghép chữ Phúc Lộc Thọ là nét truyền thống văn hóa dân tộc tốt đẹp.

    Chữ Phúc mang nhiều ý nghĩa may mắn, tốt lành đứng một mình hay được kết hợp với các chữ khác như : phúc lộc thọ, phúc mãn đường…thể hiện các ước nguyện của con người cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đầy đủ trở thành nét văn hóa đặc trưng của dân tộc ta, gìn giữ và giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống, đạo đức tốt đẹp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nhớ Chữ Trong Tiếng Hán (Phần 1)
  • Tìm Hiểu Về Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Tranh Chữ Lộc Trong Phong Thủy
  • Chữ Lộc Trong Tiếng Hán
  • Ý Nghĩa Chữ Nhẫn Trong Tiếng Hán Và Cuộc Sống Người Việt
  • Ý Nghĩa Chữ Lộc Trong Tiếng Hán Cổ Xưa
  • Chữ Tâm Trong Tiếng Hán: Cách Viết Và Ý Nghĩa Của Chữ Tâm

    --- Bài mới hơn ---

  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán: Ý Nghĩa, Cách Viết
  • Cách Viết Tiếng Nhật Trên Máy Tính
  • Cách Viết Tiếng Trung Quốc (Chữ Hán) Cơ Bản Với Chinese
  • Tập Viết Chữ Hán: 8 Quy Tắc Viết Chữ Trung Quốc Bắt Buộc Phải Nhớ
  • Hướng Dẫn Viết Chữ Trên Bia Mộ, Lăng Mộ.
  • Đối với văn hoá Á Đông nói chung và văn hoá Việt Nam nói riêng chữ Tâm rất quen thuộc và bình dị. Càng trở nên thân thương thì chữ Tâm càng chứa đựng nhiều ý nghĩa to lớn. Chữ Tâm đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sự cho tới nay, tốn không ít giấy mực và là đề tài bàn luận sôi nổi.

    Ý nghĩa chung của chữ Tâm

    Theo nhiều trường phái tôn giáo và triết học thì chữ Tâm đều có những ý nghĩa và đặc điểm quy tụ như sau:

    • Chữ Tâm khi nói tới là trái tim, lương tâm và lòng dạ của con người. Mỗi hành động mà chúng ta làm đều xuất phát từ cái tâm, tâm thiện và hành động theo lẽ phải. Nếu tâm không thiện sẽ phạm phải những điều xấu và tội lỗi.
    • Chữ Tâm dùng để hướng suy nghĩ con người tới việc dưỡng tính, tu thân, cái thiện và sống tích cực. Tâm lệch lạc làm con người sống điên đảo và gian dối, tham lam, đố kỵ.

    Vậy nên mỗi người trong chúng ta cần để tâm mình đặt lên ngực mà yêu thương, đùm bọc và giúp đỡ người khác. Đặt lên mắt để thấy được nỗi khổ, đặt lên chân để may mắn tới mọi người, đặt lên miệng nói lời an ủi, đặt lên vai để có trách nhiệm.

    Ý nghĩa chữ Tâm trong Phật giáo

    Chữ Tâm trong Phật giáo không đơn giản như các giả học phương Tây nghĩ. Tâm ở đây là phạm trù quan trọng và cơ bản của Phật giáo. Chữ Tâm dẫn đầu trong các pháp, chủ, kim thánh phật. Nói khái quát thì chữ Tâm trong phật giáo phân thành 6 loại tâm như sau:

    • Nhục đoàn tâm: Là trái tim thịt không nghe những lời dèm pha phá huỷ, lời ác bên ngoài.
    • Tinh yếu tâm: Chỗ kín mật, chỉ sự tinh hoa cốt tuỷ.
    • Kiêm thực tâm: Cái tâm không được hư vọng, gọi là chân tâm.
    • Liễu biệt tâm: Ám chỉ tri thức giác quan và ý thức. Với tác dụng dựa vào ngoại cảnh bên ngoài mà phân biệt nhận thức.
    • Tư lượng tâm với chức năng chính là nhập lập trường chủ quan, không sa ngã bởi những yếu tố bên ngoài.
    • Tập khởi tâm: Chứa đựng mọi kinh nghiệm sống và nguồn gốc các hiện tượng tinh thần của con người. Đây là nơi lưu trữ hạt giống sinh ra muôn vật. Tâm lý học gọi đây là vô thức hay tiềm thức.

    thể hiện giá trị, tầm quan trọng ở các nét cọ mạnh mẽ, uyển chuyển, đầy sức tạo hình. Các tác phẩm chữ Tâm thư pháp chỉnh chu và luôn đặt ở vị trí quan trọng. Đây là lời khuyên và sự răn đe ý nói con người cần giữ cái Tâm đúng với bản chất.

    Thư pháp chữ Tâm thể hiện trong tiếng Hán hay chữ Quốc Ngữ trên nhiều chất liệu. Chữ Tâm cách điệu và tạo hình sáng tạo hơn tất cả đều nằm ở ý đồ của người nghệ nhân. Vì thế mà các bức tranh thư pháp và tác phẩm nghệ thuật thư pháp chữ Tâm ngày càng được ưa chuộng và sử dụng phổ biến.

    Chữ Tâm trong kinh doanh

    Trong lĩnh vực kinh doanh chữ Tâm ý nói tới đạo đức kinh doanh. Người chủ khi làm việc cần có tâm không dùng thủ đoạn, cần tôn trọng pháp luật. Đặc biệt là phải có cái tâm với nghề, bảo vệ người tiêu dùng sản phẩm. Bản chất của việc làm ăn kinh doanh sẽ làm ra nhiều tiền.

    Nhưng thường thì việc làm giàu sẽ dẫn tới 2 trường hợp là làm giàu hợp pháp và bất hợp pháp. Việc làm bất hợp pháp là vì lợi nhuận mà tổn hại sức khoẻ người dùng. Nên khi kinh doanh cần đặt cái Tâm vào nghề, đề cao lương tâm, sản phẩm cần chất lượng, phục vụ khách hàng tốt nhất.

    Quá trình sản xuất, buôn bán cần nỗ lực để tạo nên. Có như vậy quá trình kinh doanh mới bền lâu và tốt đẹp, tạo thành vòng tuần hoàn tốt cho xã hội, đời sống. Đạo đức trong kinh doanh rất quan trọng để khẳng định thương hiệu, có chỗ đứng vững vàng trên thị trường.

    Trong nho giáo con người đều có tâm, quan trọng là tâm xấu hay tốt. Người vô tâm sẽ ích kỷ và có tâm xấu, chỉ nghĩ tới bản thân. Tâm tốt lành luôn làm việc có ý nghĩa, nói lời hay và làm việc tốt. Trong thư pháp chữ Tâm viết bằng chữ Hán hay chữ Quốc Ngữ đều cách điệu và sáng tạo.

    Tất cả đều hướng con người tới việc giữ lương tâm trong sáng, lương thiện và hướng tới Chân Thiện Mỹ. Chữ Tâm còn có mặt trong các tác phẩm văn học Việt Nam như ca dao, tục ngữ, truyện nôm gồm Kim Vân Kiều, Nhị Độ Mai,…

    Trong giáo lý chữ Tâm diễn tả bằng nhiều danh từ như cõi lòng con người, lương tâm, tâm hồn, linh hồn. Có thể hiểu một cách tương đối chữ Tâm trong giáo lý là tâm hồn trong thân xác con người. Linh hồn tương quan tới thể xác trong bình diện con người. Lương tâm tương quan thiện các trên bình diện lý trí. Trái tim tương quan với sự yêu ghét trên bình diện tình cảm.

    Chữ Tâm trong tiếng Hán dùng để chỉ trái tim, tấm lòng, tâm tư. Đây là chữ tượng hình, gần giống với hình trái tim. Ở trên chữ Tâm trong tiếng Trung có 3 dấu chấm tượng trưng ba cái cuống tim. Chữ Tâm xuất hiện nhiều trong tranh chữ đầu năm với ý nghĩa tốt đẹp trong cuộc sống.

    Ý nghĩa chữ tâm tiếng Hán

    Chúng ta biết rằng chữ Tâm trong tiếng Hán gần giống với hình trái tim. Vì thế mà chữ Tâm có ý ngầm nói rằng tất cả mọi việc chúng ta làm cần xuất phát từ cái tâm. Cần phải có tâm trong sát cuộc đời mới ngọt ngào như quả thơm.

    Cách viết chữ Tâm trong tiếng Hán

    Quy tắc viết chữ Tâm trong tiếng Hán mà chúng ta cần phải ghi nhớ đó là viết từ trái qua phải, từ trên xuống dưới và từ trong ra ngoài. Quy tắc này áp dụng cho mọi bộ chữ Hán từ giản thể đến phồn thể. Khi thuộc quy tắc viết bạn sẽ tiến hành ghép các nét chính trong chữ với nhau.

    Thứ tự viết chữ Tâm tiếng Hán như sau:

    Nếu bạn có ý định tìm mua các sản phẩm về chữ Tâm không thể bỏ qua các bức tranh . là địa chỉ cung cấp tranh đồng chất lượng và cao cấp. Tranh đồng có giá trị kinh tế lẫn tinh thần rất cao nên đây là món quà ý nghĩa. Hãy liên hệ Dung Quang Hà để được tư vấn, sở hữu tranh đồng chữ Tâm chất lượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chữ Phúc Trong Tiếng Hán
  • Cách Nhớ Chữ Hán Dễ Dàng
  • Đánh Chữ Hán Trên Vi Tính
  • Cách Viết Chữ Trên Facebook Messenger Kiểu In Đậm, In Nghiêng
  • Cách Viết Chữ Hiệu Ứng Độc Đáo, Chữ In Đậm, Nghiêng,…lên Facebook
  • Cách Viết Chữ Hán Và Dấu Câu Trong Giấy Kẻ Ô

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Triệu – Văn Tế Trong Đám Tang
  • Sách “Thọ Mai Gia Lễ” Miền Nam
  • Ý Nghĩ Của Chữ Lộc Trong Tiếng Hán
  • Ý Nghĩa Trong Tiếng Hán, Thư Pháp Và Văn Hóa Việt
  • Chữ Lộc Trong Tiếng Hán – Học Tiếng Hán Với Thanhmaihsk
  • Chữ Hán được ghép bởi các nét lại với nhau và tạo nên một chữ vuông vức. Khi mới tập viết chữ Hán, thông thường bạn sẽ được khuyên nên tập viết vào giấy có kẻ sẵn ô. Ngay cả những đứa bé Trung Quốc khi học tiểu học cũng phải tập viết vào tập có ô. Cũng như các bé Việt Nam vào lớp 1 cũng phải viết tập có ô li.

    Việc viết vào giấy kẻ ô sẽ giúp chữ bạn đẹp hơn, ngay ngắn hơn. Vậy, khi viết cần chú ý điều gì?

    Do thói quen viết chữ Việt, nhiều bạn khi viết sẽ canh theo đường kẻ dưới cùng mà không viết chữ vào giữa ô. Thật ra, khi viết chữ Hán trong ô, bạn nên canh đường trục thẳng và trục ngang của ô, viết sao cho chữ nằm giữa ô, cách đều các cạnh của ô. Ví dụ như hình bên dưới, bạn sẽ thấy các chữ cách đều các cạnh chứ không phải lấy đường kẻ cạnh dưới của ô làm chuẩn như viết tiếng Việt.

    Còn một điều cần chú ý là chữ không nên quá nhỏ so với ô. Như hình bên dưới bạn sẽ thấy không cân xứng, đúng không?

    Khi viết trong giấy kẻ ô hẳn các bạn sẽ có thắc mắc là vậy dấu câu sẽ viết thế nào? Có quy tắc gì không?

    Đầu tiên bạn cần biết cách viết các dấu câu trong tiếng Trung Quốc. Trong tiếng Trung Quốc ngoài một số dấu câu đặc biệt như dấu tên sách 《》 , thì cách viết giống tiếng Việt, như: dấu phẩy (,) /dấu chấm hỏi (?)/ dấu chấm than (!)/ dấu hai chấm (:)/ dấu ngoặc kép/ dấu ngoặc đơn. Nhưng, đặc biệt cần nhớ dấu chấm trong tiếng Trung Quốc sẽ là một dấu tròn rỗng ruột nhỏ như sau: (。), chứ không như dấu chấm trong tiếng Việt.

    Có vài bạn khi thấy dấu chấm câu được viết như trên, nên nghĩ rằng dấu hai chấm hay dấu chấm phẩy, dấu chấm hỏi, chấm cảm đều được thay thế thành một dấu tròn nhỏ rỗng ruột như hình dưới. Nếu bạn viết như vậy, e rằng sẽ gây nên chuyện cười đó.

    Bây giờ chúng ta xem thử nếu viết một đoạn văn trong giấy kẻ ô, thì dấu câu sẽ cần được viết vị trí như thế nào. Chúng ta nhìn lại bức hình đầu tiên, bạn quan sát xem vì sao có khi dấu chấm chiếm 1 ô, có khi dấu chấm lại viết chung một ô với chữ?

    Bạn quan sát đúng rồi đó (vỗ tay). Thông thường dấu câu sẽ chiếm một ô và được viết vào góc trái bên dưới của ô. Như sau:

    7 dấu câu trên thường không đứng đầu câu, mà phải theo sát câu nói, đứng cuối câu. Nếu câu kết thúc ở cuối hàng thì chúng ta viết dấu câu chung một ô với chữ cuối cùng trong hàng, như sau:

    Dấu ngoặc kép, dấu ngoặc đơn, dấu tên sách thì nửa phần trước và nửa phần sau đếu chiếm một ô . Nửa phần trước có thể đứng đầu dòng, không đứng cuối dòng. Nửa phần sau không xuất hiện ở đầu dòng.

    Xem đến đây bạn đã biết cách viết chữ Hán và dấu câu trong giấy kẻ ô chưa? Mong rằng những kiến thức nhỏ này sẽ giúp việc học tiếng Trung Quốc của bạn trở nên tốt hơn và có hệ thống hơn.

    Nhận dạy giao tiếp các trình độ. Mình tin rằng với sự nhiệt huyết và kiến thức của mình sẽ giúp bạn học hiệu quả tiếng Trung Quốc hơn.

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Cài Đặt Bộ Gõ Tiếng Trung Trong Điện Thoại Ip
  • Điệp Thức Của Chữ Giác
  • Sách Học Dành Cho Các Em Xuất Thân Việt Nam : Chữ Hán : Chữ Hán Trình Độ Lớp 1
  • Cách Đổi Ngôn Ngữ Fb Từ Tiếng Trung Sang Tiếng Việt 2022
  • Cách Bật Dịch Ngôn Ngữ Trên Facebook Siêu Đơn Giản
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100