Cách Viết Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng / 2023 / Top 19 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Ezlearning.edu.vn

Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng / 2023

Tham nhũng là một thực trang rất nghiêm trọng ở nước ta hiện nay. Tham nhũng gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, cản trở sự phát triển của đất nước trong tiến trình hội nhập với thế giới, làm xí mòn long tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tệ nạn này diễn ra trên mọi lĩnh vực, từ cấp Trung ương đến địa phương. Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đồng bộ thể hiện sự quyết tâm trong việc đấu tranh chống tham nhũng. Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật Phòng chống tham nhũng được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 8 thông qua. Với tư cách là một giáo viên, giữ vai trò quan trong trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật Phòng chống tham nhũng đến học sinh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ” Những vấn đề cơ bản về pháp luật phòng, chống tham nhũng. Liên hệ thực tiễn về thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng hiện nay” để nâng cao hiểu biết, giúp công tác giảng dạy của bản thân đạt kết quả tốt hơn.

– Nâng cao hiểu biết của bản thân về pháp luật Phòng, chống tham nhũng.

– Nâng cao ý thức tự giác chấp hành các nội dung pháp luật Phòng, chống tham nhũng của bản thân

– Nắm nội dung cơ bản của pháp luật Phòng, chống tham nhũng để phục vụ giảng dạy tốt hơn.

3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

3.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp:

Trên cơ sở kinh nghiệm giảng dạy của bản thân qua nhiều năm công tác giảng dạy và quá trình nghiên cứu tài liệu sách báo, tôi tiến hành phân tích, lựa chọn một số phương pháp nâng cao nhận thức pháp luật có hiệu quả.

Nội dung nghiên cứu đề tài

– Những vần đề cơ bản của pháp luật phòng chống tham nhũng.

– Liên hệ thực tiễn về việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng hiện nay.

NỘI DUNG

KHÁI NIỆM THAM NHŨNG 1. Định nghĩa Tại khoản 2, Điều I của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi . Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước. Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu. 2. Những đặc trưng cơ bản Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau: 2.1. Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó (khoản 3, Điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005). 2.2. Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Chủ thể tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng.

2.3. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng.

Biểu hiện của hành vi tham nhũng Theo điều 3 Luật Phòng chống tham nhũng quy những hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham nhũng: – Tham ô tài sản. – Nhận hối lộ. – Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi. – Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi. – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi. – Giả mạo trong công tác vì vụ lợi. – Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi. – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi. – Nhũng nhiễu vì vụ lợi. – Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi. – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. – Về hành vi “đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi”: Đây là một biểu hiện mới của tệ tham nhũng. Do vẫn còn tồn tại cơ chế “xin – cho” trong nhiều lĩnh vực nên có nhiều cá nhân đại diện cho cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương đã tìm cách hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn phụ trách việc phê duyệt chương trình, dự án, cấp kinh phí, ngân sách để được lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình và thông qua đó để đạt được các lợi ích cá nhân. Hành vi này được coi là hành vi tham nhũng. Điều cần lưu ý là hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ là tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự không thuộc nhóm các tội phạm về tham nhũng mà thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ. Còn hành vi đưa hối lộ, làm môi giới hối lộ được thực hiện bởi chủ thể có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi thì mới được coi là hành vi tham nhũng. Hành vi này vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật hình sự với tội danh tương ứng (nếu hành vi đó cấu thành tội phạm), vừa là hành vi tham nhũng theo sự điều chỉnh của pháp luật về tham nhũng. – Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản nhà nước vì vụ lợi”: Đây là hành vi lợi dụng việc được giao quyền quản lý tài sản của nhà nước để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc một nhóm người nào đó thay vì phục vụ cho lợi ích công. Biểu hiện cụ thể của hành vi này thường là cho thuê tài sản như: nhà xưởng, trụ sở, xe ôtô và các tài sản khác nhằm vụ lợi. Số lượng tài sản cho thuê nhiều khi lớn. Hành vi này diễn ra khá phổ biến hiện nay. – Về hành vi “nhũng nhiễu vì vụ lợi”: Nhũng nhiễu là hành vi đã được mô tả trong phần thuật ngữ khái niệm. Cần nhấn mạnh thêm hành vi này xuất hiện trong hoạt động của một số cơ quan công quyền, nhất là tại các cơ quan hành chính, nơi trực tiếp giải quyết công việc của công dân và doanh nghiệp.

– Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi”. Hành vi tham nhũng nhiều khi được che chắn thậm chí là có sự đồng lõa của những người có chức vụ, quyền hạn ở cấp cao hơn. Vì vậy, việc phát hiện và xử lý tham nhũng là hết sức khó khăn. Việc bao che cho người có hành vi tham nhũng, việc cản trở quá trình phát hiện tham nhũng có khi được che đậy dưới rất nhiều hình thức khác nhau như: thư tay, điện thoại, nhắc nhở, tránh không thực hiện trách nhiệm của mình hoặc có thái độ, việc làm bất hợp tác với cơ quan có thẩm quyền… – Hành vi “không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi” là hành vi thường được gọi là “bảo kê” của những người có trách nhiệm quản lý, đặc biệt là một số người làm việc tại chính quyền địa phương cơ sở, đã “lờ” đi hoặc thậm chí tiếp tay cho các hành vi vi phạm để từ đó nhận lợi ích từ những kẻ phạm pháp. Đây là hiện tượng hết sức nguy hại cần phải loại bỏ. II- NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA THAM NHŨNG Những nghiên cứu về tham nhũng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng cũng cho thấy tham nhũng là một hiện tượng xã hội gắn với sự xuất hiện chế độ tư hữu, sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước, quyền lực nhà nước và các quyền lực công khác. Tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ với những mức độ khác nhau.

Cùng với sự phát triển của các hình thái nhà nước, đặc biệt là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, các quan hệ chính trị – kinh tế tạo ra những tiền đề khách quan quan trọng làm cho tham nhũng phát triển. Lợi ích là yếu tố chủ quan dẫn đến tham nhũng. Khi còn điều kiện để lợi ích kết hợp với sự lạm quyền của những người có chức vụ, quyền hạn thì vẫn còn có khả năng xảy ra tham nhũng. Có nhiều nguyên nhân và điều kiện phát sinh tham nhũng, trong đó có những nguyên nhân, điều kiện cơ bản sau: 1. Nguyên nhân và điều kiện khách quan – Hệ thống chính trị chậm được đổi mới, trình độ quản lý còn lạc hậu, mức sống thấp, pháp luật chưa hoàn thiện, tạo ra các kẽ hở cho tệ tham nhũng nảy sinh và phát triển. – Cơ chế chính sách pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, việc phân cấp quản lí giữa Trung ương và địa phương, phân biệt quản lí nhà nước và quản lí sản xuất, kinh doanh có phần chưa rõ. Quá trình chuyển đổi đòi hỏi phải có thời gian, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để tiếp tục hoàn

– Do ảnh hưởng của tập quán văn hoá như biếu và quà tặng bị lợi dụng để thực hiệ hành vi tham nhũng. 2. Nguyên nhân và điều kiện chủ quan – Phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên bị suy thoái; công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên còn yếu kém Cải cách hành chính vẫn còn chậm và lúng túng, cơ chế “xin – cho” trong hoạt động công vụ còn phổ biến; thủ tục hành chính phiền hà, nặng nề, bất hợp lý – Sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong một số trường hợp chưa chặt chẽ, sâu sát, thường xuyên; xử lý chưa nghiêm đối với hành vi tham nhũng – Thiếu các công cụ phát hiện và xử lý tham nhũng hữu hiệu Những năm qua, hoạt động điều tra, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát đã thu được một số kết quả tích cực nhưng trên thực tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Về pháp luật, chúng ta chưa có những quy định cho phép các cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp đặc biệt để có thể phát hiện các hành vi tham nhũng nên hiệu quả phát hiện tham nhũng chưa cao.

Tác hại về xã hội Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội, tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY

Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) nói chung, pháp luật về phòng chống tham nhũng nói riêng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Trong những năm qua, việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng được chú trọng và không ngừng nâng cao. Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật Phòng chống tham nhũng được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 8 thông qua, trong đó có quy định cụ thể các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lí các hành vi tham nhũng. Ngay sau luật này ra đời,chính phủ đã tiến hành chỉ đạo các cấp, các ngành quán triệt nội dung của Luật, đồng thời chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tập trung tuyên truyền, phổ biếp pháp luật về Phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Chính phủ ban hành nhiều quyết định, chỉ thị yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tiến hành các kế hoạch tuyên truyền, phổ bến pháp luật về phòng chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, học sinh, sinh viên và các tầng lớp khác trong xã hội. Chẳng hạn, ngày 02 tháng 12 năm 2009, Thủ tướng chính phủ ra Quyết định 137/2009/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng; chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 12 tháng 6 nam 2013 của Thủ tướng hính phủ về việc đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, đào tạo từ năm học 2013-2014…Chính phủ và các Bộ, ngành, các cơ quan từ trung ương đến địa phương đưa đưa công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng thành nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, thông qua nhiều hình thức, nhiều biện pháp. Việc phổ biến pháp luật Phòng chống tham nhũng đã tạo sự đồng thuận trong xã hội, góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả. Kết quả thực hiện phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng bước đầu đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận.

Tuy nhiên, mặc dù đạt được một số kết quả, song qua thực tế cho thấy việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng vẫn còn nhiều hạn chế. việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng chưa đáp ứng được sự kì vọng của Nhà nước và xã hội. Nhiều địa phương, nhiều cơ quan chưa thấy được tầm quan trọng của việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, dẫn đến việc thực hiện còn mang tính đối phó, có lệ. Hình thức phổ biến chưa phong phú và linh hoạt, thời lượng tuyện truyền còn hạn chế, chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tế. Trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng còn mang tính lí thuyết, tuyên truyền suông. Chính vì vậy, chưa góp phần thay đổi lớn trong nhận thức và ý thức trong công tác phòng chống tham nhũng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới hiệu quả của công tác phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cũng như công tác phòng chống tham nhũng đạt kết quả chưa cao.

KẾT LUẬN

Từ khi ban hành vào năm 2005, Luật Phòng chống tham nhũng đã trải qua nhiều lần lần sửa đổi, bổ sung (cụ thể vào các năm 2007 và năm 2012 với mục đích làm cho những quy định của Luật phù hợp hơn với thực tiễn của đời sống xã hội.Nó tạo ra một cơ chế phòng, ngừa, phát hiện tham nhũng toàn diện và sâu rộng, mang tính phòng ngừa sớm trong xã hội, qua đó góp phần xây dựng một cơ chế quản lý nhà nước, quản lý xã hội “nói không với tham nhũng”, “không thể tham nhũng”, giảm thiểu các nguy cơ phát sinh tham nhũng hoặc dễ dàng phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý kịp thời đối với các hành vi có dấu hiệu tham nhũng. Tuy nhiên, để công tác phòng chống tham nhũng có hiệu quả, bên cạnh vai trò của Đảng, của Nhà nước cần có sự hành động chung tay tích cực của cả hệ thống chính trị, cơ quan, đoàn thể, ban ngành, đặc biệt là vai trò của quần cúng nhân dân. Với thực trạng tham nhũng hiện nay có thể xem tham nhũng là một thứ giặc cực kì nguy hiểm, cản trở nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và để chống lại loại giặc ” nội xâm” ấy, phải huy động sức mạnh của nhân dân. Để làm được điều đó, nhà nước ta cần tăng cường thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng thông qua nhiều hình thức như thông qua báo chí, thành lập tổ tư vấn pháp luật, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thống, pa-nô, áp phích, tranh cổ động, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật, lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị, đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở…. nhằm nâng hiểu biết của nhân dân đối với pháp luật về phòng, chống tham nhũng, đồng thời có ý thức tốt hơn trong việc thực hiện pháp luật và thực hiện các hoạt động tố cáo những hành vi tham nhũng, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.

LÊ THỊ THANH TÂM

Cách Viết Một Bài Tiểu Luận / 2023

Trong quá trình học Đại học, chắc chắn chúng ta sẽ phải viết nhiều bài tiểu luận, bài thu hoạch hay bài tập nhóm. Nhưng để có được một bài tiểu luận hay bài thu hoạch tốt và đạt được điểm cao thì không phải là chuyện dễ.

Trong bài viết này, Luận Văn A-Z sẽ chia sẻ những kinh nghiệm và kỹ năng mà chúng tôi đã tích cóp được trong quá trình viết một bài tiểu luận. Thời gian trước sinh viên thường copy- paste những đoạn trên mạng vào tiểu luận, làm sơ sài rồi nộp cho giảng viên. Nhưng khi làm bài với sự tập trung và đam mê với đề tài mà mình đã chọn thì việc hoàn thành với điểm 8 – 10 là điều không quá khó.

Vậy thì như thế nào là một bài tiểu luận? Hiện nay, một số bạn sinh viên, nhất là những sinh viên năm đầu, khi được giao viết một bài tiểu luận, còn chưa biết là viết về cái gì? Có thể hiểu một cách đơn giản, tiểu luận là viết báo cáo về một vấn đề của một môn học hay một vấn đề thực tiễn của một đơn vị nào đó nhằm để rút ra những kết luận, những đóng góp ý kiến, những đề xuất giải pháp để có thể thực hiện hay cải tiến được vấn đề đã nêu ra và có độ dài dưới 30 trang.

Một bài tiểu luận thông thường có hai dạng, một là GV sẽ cho làm cá nhân, hai là GV sẽ giao một đề tài để cả nhóm cùng làm. Đối với cá nhân, các bạn sẽ phải chủ động hơn trong quá trình viết đề tài. Tuy nhiên khi làm nhóm thì các bạn phải biết kết hợp với các thành viên khác thì mới có thể tận dụng được những thế mạnh của mỗi cá nhân, thì công việc sẽ nhàn hơn mà vẫn đạt được hiệu quả cao.

Chúng tôi chỉ xin lưu ý một điểm nhỏ là khi làm nhóm thì phải biết vai trò của người leader là cực kỳ quan trọng. Việc đầu tiên cần làm là cả nhóm cần phải thống nhất chọn ra 1 bạn làm nhóm trưởng, người nhóm trưởng này không nhất thiết phải là người giỏi nhất trong nhóm, mà nhất thiết phải là người luôn có trách nhiệm với công việc và phải biết sắp xếp công việc, thời gian cho cả nhóm. Người leader nên phân chia công việc một cách khoa học, thống nhất lịch trình làm việc cũng như deadline của cả nhóm để công việc hoàn thành đúng hạn và hiệu quả.

Cho dù là làm cá nhân hay làm nhóm thì các bước làm một bài tiểu luận vẫn phải theo trình tự nhất định như sau: Chọn đề tài tiểu luận; Lập dàn ý; Xác định các nguồn tài liệu tham khảo; Viết nội dung; Hoàn chỉnh các bước trình bày và các công đoạn bên lề. Các bước làm, cần chú ý như sau:

1. Chọn đề tài tiểu luận

Bước này chỉ làm khi giáo viên cho phép các bạn được tự do lựa chọn đề tài. Lúc này, xác định lựa chọn một đề tài thường phải đạt được các điều kiện sau:

– Các đề tài bạn chọn phải phù hợp với môn hay nội dung giáo viên đưa ra: có nhiều bạn khi lựa chọn đề tài thường không chú tâm xem đề tài này có phù hợp với nôi dung của môn học hay không, thường hay không đọc kỹ yêu cầu của giảng viên đưa ra từ đó dễ dẫn đến lạc đề. – Đề tài được chọn thì bạn thích và thực sự hứng thú khi làm. – Đề tài phải mang tính khả thi: tức là ta phải có đủ kiến thức cũng như tài liệu để có thể hoàn chỉnh được bài viết. Đề tài mà bạn thích lại không đủ kiến thức để có thể tìm được tài liệu tham khảo cũng như không thực hiện được thì tốt nhất là bạn không nên chọn nó.

2. Lập dàn ý trước khi viết tiểu luận

Thông thường dàn ý của một bài tiểu luận thường sẽ gồm 3 phần chính: – Phần đầu (chương I hay mục I, tùy theo cách đánh dấu): Hay còn gọi là chương lý luận: nêu lên một số lý luận hoặc phải giới thiệu một cách tổng quan về vấn đề của bài viết. Nếu ta đã có ý định sẽ đưa bài học kinh nghiệm của vấn đề được nêu ở phần đề tài thì vị trí thích hợp nhất sẽ là để ở cuối phần này. – Phần hai ( chương II hay mục II): là phần thực trạng và đánh giá: nêu rõ thực trạng của vấn đề được viết trong đề tài và những đánh giá về vấn đề đó. – Phần ba: thường viết về những giải pháp và kiến nghị, hay nêu lên một số bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu hoặc đề ra phương hướng cho thời gian tới. Ở phần này tốt nhất ta nên nêu ra trên cơ sở căn cứ vào thực trạng, nhiều khó khăn hay vướng mắc còn hay gặp phải của vấn đề đã nêu trong chương 2. Ở phần này, ta nên đề xuất theo quan điểm của cá nhân để có thể hoàn thiện về mặt lý luận gắn kết đến đề tài.

3. Xác định các nguồn tài liệu tham khảo

4. Viết nội dung chính của bài tiểu luận

5. Hoàn chỉnh các bước trình bày và hình thức

Phần hoàn chỉnh bài viết cần được xem xét kỹ càng và cẩn thận, tránh lỗi trình bày và lỗi chính tả.

Với nhiều bạn sinh viên, làm tiểu luận được ví như những “gánh nặng, cực hình” và các bạn rất ngại viết. Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng, việc viết tiểu luận là rất bổ ích, không những sẽ giúp bạn bổ sung thêm kiến thức môn học, mà còn giúp bạn rèn luyện được rất nhiều kỹ năng: kỹ năng tìm tài liệu, viết bài, làm việc nhóm, sử dụng word, chúng tôi trọng nhất, làm tiểu luận còn là tiền đề để các bạn làm tốt luận văn tốt nghiệp khi kết thúc khóa học ở trường.

Cách viết một bài tiểu luận

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP. Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : luanvanaz@gmail.com ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

Cách Viết Một Bài Tham Luận Hay / 2023

Thuận lợi, khó khăn/ Ưu điểm, hạn chế

Nguyên nhân của thực trạng

Trong Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ : “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học. Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”.

Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học. Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học như dạy theo lớp, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin.

Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học; được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp và đặc biệt là sự chỉ đạo sâu sát của Sở Giáo dục và Đào tạo, trường phổ thông PT DTNT THPT huyện Điện Biên đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng, triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT và bước đầu thu được một số kết quả nhất định.

Thay mặt BGH nhà trường, tôi xin trình bày tham luận về “Các giải pháp ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường PT DTNT THPT huyện Điện Biên”.

I. THỰC TRẠNG

Là một trường chuyên biệt, bắt đầu từ năm học 2009-2010, khi được nâng cấp lên THPT nhà trường có 08 lớp với 250 học sinh. Trong đó gần 100% học sinh là con em các dân tộc thiểu số thuộc các vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của huyện Điện Biên. Chính vì thế mà điều kiện được tiếp xúc với CNTT của đa số các em học sinh là rất hạn chế.

Đội ngũ giáo viên: Đa số là giáo viên trẻ mới ra trường hoặc từ nơi khác chuyển về; nhiều giáo viên trình độ Tin học, kỹ năng sử dụng máy tính và các phương tiện hỗ trợ còn hạn chế.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho việc dạy tin học và ứng dụng CNTT của nhà trường còn nhiều hạn chế: Thiếu các phòng học chức năng; số máy tính phục vụ cho học tin học của học sinh còn ít (chỉ có 01 phòng với 15 máy tính).

II. GIẢI PHÁP

Thực hiện hướng dẫn của Sở, căn cứ vào đặc điểm năm học và tình hình thực tế của đơn vị, nhà trường đã xây dựng kế hoạch dạy, học và ứng dụng CNTT giai đoạn 2011- 2015 với ý thức sâu sắc rằng CNTT là công cụ hỗ trợ đắc lực và hữu hiệu cho các hoạt động giáo dục. Trong đó xác định mục tiêu đích của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là: Nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao, khắc phục tình trạng “thầy đọc, trò chép”, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình.

Để thực hiện được mục tiêu đó, trong hệ thống các giải pháp, nhà trường chú trọng một số giải pháp sau: 1. Công tác bồi dưỡng giáo viên

Xác định Con người là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công trong việc ứng dụng CNTT vào trong quản lý và giảng dạy. Do đó, nhà trường đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học, đặc biệt là các kỹ năng ứng dụng CNTT cho đội ngũ giáo viên. Để hiểu rõ trình độ và kỹ năng Tin học của đội ngũ, ngoài việc tìm hiểu hồ sơ giáo viên, nhà trường đã tiến hành khảo sát thực tế. Kết quả cho thấy 100% giáo viên có chứng chỉ Tin học từ A trở lên nhưng trong đó kỹ năng sử dụng máy tính của một số giáo viên còn hạn chế, nhiều giáo viên chưa biết soạn bài bằng powerpoint.

Xuất phát từ thực tế đó, nhà trường đã tiến hành bồi dưỡng bằng các giải pháp cụ thể:

1.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên

Đẩy mạnh tuyên truyền cho giáo viên thấy rõ hiệu quả và yêu cầu mang tính tất yếu của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua việc triển khai các văn bản chỉ đạo của Bộ, ngành về ứng dụng CNTT trong dạy học; thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ khối, hội thảo chuyên đề; thông qua dự giờ thăm lớp và qua việc triển khai các cuộc thi có ứng dụng CNTT do ngành tổ chức.

Phát động sâu rộng thành phong trào và đề ra yêu cầu cụ thể về số tiết ứng dụng CNTT đối với mỗi giáo viên để chính họ qua áp dụng thấy được hiệu quả và sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, đặc biệt là đối với đổi mới phương pháp dạy học.

1.2 Nâng cao trình độ Tin học cho đội ngũ

Tạo điều kiện cho giáo viên học tập nâng cao trình độ Tin học (02 giáo viên Tin học của trường được tạo điều kiện về thời gian để tham gia học nâng cao trình độ từ Cao đẳng lên Đại học CNTT);

Bố trí sắp xếp để cán bộ giáo viên được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, bồi dưỡng CNTT do ngành tổ chức.

1.3 Bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT

Muốn ứng dụng CNTT vào giảng dạy hiệu quả thì ngoài những hiểu biết căn bản về nguyên lý hoạt động của máy tính và các phương tiện hỗ trợ, đòi hỏi giáo viên cần phải có kỹ năng thành thạo. Nhận thức được điều đó, nhà trường rất chú trọng bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên thông qua nhiều hoạt động, như:

– Tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng sử dụng máy tính và các phần mềm Tin học với giảng viên là giáo viên CNTT và những giáo viên có kỹ năng tốt về Tin học của trường, theo hình thức trao đổi giúp đỡ lẫn nhau, tập trung chủ yếu vào những kỹ năng mà giáo viên cần sử dụng trong quá trình soạn giảng hàng ngày như lấy thông tin, các bước soạn một bài trình chiếu, các phần mềm thông dụng, cách chuyển đổi các loại phông chữ, cách sử dụng một số phương tiện như máy chiếu, máy quay phim, chụp ảnh, cách thiết kế bài kiểm tra,…

– Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề để trao đổi về kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong giảng dạy.

– Định hướng cho giáo viên luôn có ý thức sưu tầm tài liệu hướng dẫn ứng dụng CNTT hiệu quả, bộ phận chuyên môn nghiên cứu chọn lọc photo phát cho giáo viên để trao đổi trong sinh hoạt chuyên môn hoặc chuyển lên hòm thư điện tử dùng chung của nhà trường (bằng cách làm này nhà trường đã có nhiều tài liệu hay, dễ thực hành cho giáo viên sử dụng như: tài liệu hướng dẫn soạn giáo án powerpoint, hướng dẫn sử dụng máy chiếu, hướng dẫn thiết kế bài giảng điện tử e- Learning,…)

– Động viên giáo viên tích cực tự học, khiêm tốn học hỏi, sẵn sàng chia sẻ, luôn cầu thị tiến bộ, thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp; chuyên môn nhà trường phải là bộ phận kết nối, là trung tâm tạo ra một môi trường học hỏi chuyên môn tích cực.

– Tích cực tham gia các cuộc thi ứng dụng CNTT do ngành tổ chức. Bởi vì khi tham gia bất cứ cuộc thi nào yêu cầu sản phẩm cũng đòi hỏi người tham gia cuộc thi phải có sự đầu tư nhiều hơn về thời gian, công sức, chất xám và cả việc phải học hỏi ở những người giỏi hơn. Như vậy, vô hình chung cả việc rèn kỹ năng, tự học và học hỏi đồng nghiệp đều được đẩy mạnh.

Để làm được điều đó, Ban giám hiệu đặc biệt là phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn phải luôn quan tâm sâu sát, đi đầu gương mẫu, cùng học hỏi- cùng làm với giáo viên thì mới hiểu được họ yếu ở điểm nào, gặp khó khăn ở khâu nào, cần giúp đỡ gì. Nói đi đôi với làm luôn được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để thúc đẩy phong trào phát triển.

2. Công tác xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị

– Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp cùng với sự tích cực tham mưu của nhà trường, đến nay tình trạng cơ sở vật chất về tin học và công nghệ thông tin của nhà trường đã được cải thiện đáng kể.

– Nhà trường luôn cố gắng bố trí sắp xếp khoa học để khai thác hiệu quả và sử dụng tối đa số trang thiết bị hiện có.

+ Bố trí thời khóa biểu lệch ca, lệch tiết để 8 lớp đều được học tin học.

+ Bố trí các phòng làm việc của BGH, phòng chờ của giáo viên, phòng thư viện đều có kết nối Internet để cán bộ, giáo viên được truy cập Internet thường xuyên;

+ Các máy chiếu đều được lắp đặt cố định trên lớp học, tiện cho giáo viên sử dụng;

+ Hoàn thành kết nối Internet tốc độ cao;

+ Khuyến khích cán bộ giáo viên trong nhà trường kết nối Internet theo chương trình khuyến mại dành riêng cho ngành giáo dục;– Song song với việc khai thác sử dụng, nhà trường luôn chú trọng khâu quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị như: giao trách nhiệm cụ thể cho các bộ phận, thường xuyên bảo dưỡng, quan tâm bồi dưỡng kiến thức cho người sử dụng với phương châm ” giữ tốt- dùng bền” nhằm khai thác tối đa, có hiệu quả trang thiết bị được cung cấp.

3. Các hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học

– Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giáo viên tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì chỉ được học trong môn Tin học. Mỗi giáo viên dạy trung bình ít nhất 1 tiết có ứng dụng CNTT/ tháng, hàng tháng cán bộ phụ trách thiết bị báo cáo tổng hợp số tiết dạy học có ứng dụng CNTT của mỗi giáo viên. Chuyên môn nhà trường chú trọng dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm và tổ chức sinh hoạt chuyên môn trao đổi về cách ứng dụng CNTT một cách chọn lọc, phù hợp với đối tượng, nhằm phát huy có hiệu quả tác dụng của phương tiện, tránh lạm dụng quá mức.

Các hình thức sử dụng hiệu quả được nhiều giáo viên sử dụng là: Dạy trình chiếu với cách thiết kế các sile về hình thức gần giống với bảng truyền thống (màu sắc, cách chia bảng, cách trình bày đầu bài, đề mục,…); sử dụng máy chiếu như là phương tiện hỗ trợ cung cấp kênh hình với nhiều hình ảnh sinh động, âm thanh, video mà không phải mang vác nhiều tranh ảnh, bảng phụ, máy móc thiết bị khác; CNTT với nhiều phần mềm tiện ích là công cụ hỗ trợ đắc lực cho GV trong công tác soạn bài, quản lý điểm, đánh giá xếp loại học sinh… được tiện lợi và nhanh chóng.

– Tham gia lập và sử dụng “nguồn học liệu mở” về đề thi, giáo án, tài liệu tham khảo trên website của Bộ, Sở và các trường bạn, tài nguyên dùng chung trên website của trường.

– Đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên trên mạng Internet phục vụ công tác quản lý và giảng dạy của CBGV thông qua bồi dưỡng, tập huấn, cung cấp địa chỉ hoặc mở liên kết với trang web của trường.

– Tăng cường việc khai thác sử dụng hệ thống thư điện tử để tăng tiện ích, hiệu quả trong trao đổi cập nhật thông tin. Yêu cầu mỗi cán bộ giáo viên lập và đăng ký một địa chỉ mail cố định với nhà trường.

– Trường đã mở 02 lớp tập huấn sử dụng các phần mềm hỗ trợ soạn giảng và kỹ thuật thiết kế bài giảng e-Learning cho 18 cán bộ giáo viên, đồng thời thường xuyên giới thiệu các phần mềm hỗ trợ soạn giảng trong mục “tài nguyên” tại trang web của trường.

– Xây dựng và triển khai kế hoạch tham gia cuộc thi “Thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử e-Learning” do Sở tổ chức. Để việc tham gia có chất lượng, nhà trường lên kế hoạch cụ thể từ khâu chọn cử giáo viên, tổ chức tập huấn, trao đổi kinh nghiệm, động viên tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho giáo viên dự thi.

– Xây dựng và triển khai kế hoạch tham gia thi giờ dạy có ứng dụng CNTT lần thứ nhất do Sở tổ chức;

– Tổ chức nhiều hình thức dạy tin học cho học sinh như dạy chính khóa ở các lớp THPT, dạy học tự chọn ở tất cả các lớp THCS.

– Đoàn thanh niên còn sử dụng máy chiếu để tổ chức chiếu phim cho học sinh vào các tối thứ 7 hàng tuần.

III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Cái được đầu tiên phải kể đến đó chính là giáo viên đã có sự chuyển đổi về nhận thức, từ quy định (mang tính áp đặt) lúc ban đầu sang tâm thế thích thú với bài giảng ứng dụng CNTT. Từ yêu thích đến chủ động học hỏi cho nên kỹ năng soạn giảng các tiết có ứng dụng CNTT của giáo viên không ngừng được nâng lên, chất lượng bài dạy cũng tốt hơn, hấp dẫn với học sinh hơn.

– Hiện nay, 100% giáo viên nhà trường có chứng chỉ Tin học văn phòng từ trình độ A trở lên và đều soạn bài bằng máy vi tính; 17/23 giáo viên biết sử dụng kỹ thuật trình chiếu hỗ trợ giảng dạy, sử dụng các phần mềm dạy học bộ môn, các tư liệu điện tử,…

– Tổng số tiết ứng dụng CNTT trong học kì I là 165 tiết/ 17 giáo viên;

– Thành lập được thư viện đề thi với tất cả các môn;

– Trường xây dựng trang web riêng tại địa chỉ chúng tôi 100% cán bộ giáo viên biết khai thác thông tin trên website của ngành.

– Trường đạt giải Nhất toàn đoàn trong cuộc thi thiết kế bài giảng điện tử e- Learning cấp tỉnh lần thứ Nhất với 01 giải Nhất, 01 giải Nhì và 01 giải Khuyến khích. Nhà trường tiếp tục chọn cử 03 CBGV tham gia gửi bài dự thi ở cấp Bộ, kết quả 02 CBGV đạt giải (trong tổng số 3 giải của toàn tỉnh), 01 GV được nhận quà tặng của Ban tổ chức, góp phần đưa đoàn Điện Biên xếp thứ 7 trong tổng số 27 tỉnh thành cả nước tham dự cuộc thi.

IV. PHƯƠNG HƯỚNG THỜI GIAN TỚI

Tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học và kỹ năng ứng dụng CNTT cho toàn thể giáo viên.

Tham mưu đầu tư mua sắm thêm máy tính để có 02 phòng học Tin học cho học sinh.

Hoàn thiện và nộp các sản phẩm tham gia cuộc thi thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử e- Learning cấp tỉnh lần thứ II.

Tổ chức thi giảng dạy có ứng dụng CNTT cấp trường và chọn cử giáo viên dự thi cấp tỉnh lần thứ Nhất.

Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giảng dạy: sử dụng các phần mềm do Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp, soạn giảng bài giảng điện tử, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên trên internet,…

Phát huy hiệu quả của thông tin liên lạc qua email, mạng internet.

Tổ chức hội thảo chuyên đề cấp trường về ứng dụng CNTT trong dạy học.

V. KẾT LUẬN

Vạn sự khởi đầu nan, ứng dụng CNTT vào giảng dạy ban đầu là một bài toán khó với giáo viên, nhưng qua một thời gian không dài, chủ trương này đã cho thấy hiệu quả tích cực khi CNTT mang lại cho cả thầy và trò không gian mới nhiều hứng thú trong lớp học. Với sự hỗ trợ của máy tính và một số phần mềm dạy học cùng các thiết bị đi kèm, giáo viên có thể tổ chức tiết học một cách sinh động, các bài giảng không chỉ mang hơi thở cuộc sống hiện đại gần gũi hơn với học sinh mà còn giúp cả người dạy và người học được tiếp xúc với các phương tiện hiện đại, làm giàu thêm vốn hiểu biết của mình.

Việc ứng dụng CNTT vào dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học là một công việc khó khăn, lâu dài, đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên. Do đó, để đẩy mạnh việc ứng dụng và phát triển CNTT trong dạy học có hiệu quả cần có sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất của các cấp, sự chỉ đạo sâu sát của ngành, sự vào cuộc thực sự của mỗi nhà trường và đặc biệt là sự nhiệt tình, nỗ lực học hỏi, rút kinh nghiệm của bản thân mỗi giáo viên.

Hướng Dẫn Viết Mẫu Đơn Tố Cáo Tham Nhũng Mới Nhất / 2023

1. Quy định của pháp luật về tố cáo

Theo quy định tại Luật Tố cáo 2018 có hiệu lực ngày 01/01/2019, tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:

-Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

-Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Mục đích của việc tố cáo là người dân giúp cơ quan có thẩm quyền biết và tiếp nhận xử lý những hành vi vi phạm, từ đây góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính người tố cáo cũng như lợi ích công cộng, trật tự an toàn xã hội. Công dân nào bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hành vi vi phạm phạm luật cũng như bất kỳ người nào biết đến hành vi trái pháp luật đều có thể tố cáo đến cơ quan chức năng để giải quyết kịp thời hành vi vi phạm.

Khi công dân thực hiện quyền tố cáo thì sẽ phát sinh những quan hệ pháp luật nhất định như:

Người tố cáo là cá nhân thực hiện việc tố cáo.

Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo, do gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân.

Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo bằng việc tiếp nhận thông tin, sau đó xác minh, giải quyết và đưa ra kết luận.

2. Mẫu đơn tố cáo hành vi tham nhũng

Mẫu đơn tố cáo hành vi tham nhũng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————-

……., ngày ……. tháng …….năm ……

ĐƠN TỐ CÁO

Kính gửi: …………………. 

Tên tôi là:………………………………………………………………………………………………………

Địa chỉ: …………………………………………………………………………………………………………

Tôi làm đơn này tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của: ………………………………………..

Nay tôi đề nghị: ………………………………………………………………………………………….. 

Tôi xin cam đoan những nội dung tố cáo trên là đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu cố tình tố cáo sai.

NGƯỜI TỐ CÁO (Ký, ghi rõ họ tên)

————————————————————————–

Để được tư vấn trực tiếp, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN PHÁP LUẬT THIÊN MINH

Add: Tòa AQUA 1 109OT12B Vinhomes Golden River, số 2 Tôn Đức Thắng, Phường Bến Nghé, Quận 1

Tel: 0839 400 004 – 0836 400 004

Trân trọng !